Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án: 56/2025/HS-ST

Ngày: 26/5/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn
  • - Các Hội thẩm:
    • 1/ Ông Hoàng Văn Định
    • 2/ Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phùng Nguyễn Hồng Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận B Thành phố Hồ Chí Minh
  • - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị N – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận B Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận B số A N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 57/2025/TLST - HS ngày 17 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

ĐỖ NGUYỄN MINH T, giới tính: N1, sinh năm 2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Số B N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đỗ Thanh B và bà Nguyễn Thị Kim P (đã chết).

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2025.

(có mặt)

Bị hại: Ông Thạch Chí T1, sinh năm 2003

Nơi thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Nơi cư trú: 7 P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

(vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Dương Tài N2, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 18/01/2025, ông Thạch Chí T1 nhận được cuộc gọi từ Đỗ Nguyễn Minh T qua tài khoản tên “Minh Tâm” trên ứng dụng Messenger với nội dung hẹn đi uống cà phê và hẹn đến hẻm H N, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh gặp nhau. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, ông Chí T1 điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu trắng xanh biển số 84H1-485.97 đến hẻm H N, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để đón Minh T và chở Minh T đến quán C1 số A N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh ngồi trò chuyện. Khoảng 12 giờ 25 phút cùng ngày, khi ngồi uống nước nói chuyện được khoảng 10 phút thì Minh T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của ông Chí T1 nên giả vờ hỏi mượn xe của ông Chí T1 để đi công việc, khoảng 20 phút sẽ quay lại trả xe cho ông Chí T1. Vì tin tưởng nên ông Chí T1 đã giao xe cho Minh T rồi ngồi tại quán cà phê để chờ Minh T. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, ông Chí T1 không thấy Minh T quay lại trả xe và Minh T đã chặn liên hệ qua ứng dụng Messenger, không thể liên lạc được nên ông Chí T1 đi về nhà để tiếp tục chờ nhưng vẫn không thấy Minh T liên hệ trả xe. Đến ngày 21/01/2025, ông đến Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc.

Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xác định Đỗ Nguyễn Minh T là người đã chiếm đoạt xe của ông Thạch Chí T1 nên ngày 22/01/2025, Cơ quan điều tra tiến hành ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Minh T.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an Q, Đỗ Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 25/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận C xác định: Xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu trắng xanh biển số 84H1-485.97 vào thời điểm tháng 01/2025 có giá 12.333.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS-Q3 ngày 17/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận B đã truy tố bị cáo Đỗ Nguyễn Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai nhận khi ngồi uống nước nói chuyện với ông Chí T1 đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe để làm phương tiện đi lại. Vì vậy bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối là nói dối mượn xe để đi công việc, ông Chí T1 tin tưởng là thật nên đã giao xe cho bị cáo, sau khi được ông C Tâm giao xe bị cáo đã khóa điện thoại liên lạc và điều khiển xe chạy về Bình Dương để chiếm đoạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an Q, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận B, kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có bất cứ ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Vì vậy có cơ sở xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:

    Vào lúc 12 giờ 25 phút ngày 18/01/2025, tại quán C1 số A N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, với ý thức chiếm đoạt chiếc xe gắn máy Yamaha Sirius biển số 84H1-485.97 (có trị giá 12.333.000 đồng) do ông Thạch Chí T1 đang quản lý sử dụng. Bị cáo Đỗ Nguyễn Minh T đã sử dụng thủ đoạn gian dối, cung cấp thông tin sai sự thật để ông Thạch Chí T1 tin và giao chiếc xe này cho bị cáo để chiếm đoạt là bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  3. Bị cáo Đỗ Nguyễn Minh T là người đã trưởng thành nên hơn ai hết bị cáo biết rõ việc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi sai trái, vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì tham lam mà bị cáo đã nhất thời phạm tội.
  4. Hành vi mà bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm.
  5. Tuy nhiên cũng xét, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; sau khi phạm tội tài sản đã được thu hồi và giao trả cho chủ sở hữu nên thiệt hại xảy ra là không lớn; quá trình điều tra bị cáo còn được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, khi lượng hình cần căn cứ các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  6. Như đã nhận định ở trên, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, do bị cáo không có nơi cư trú ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp.
  7. Về xử lý vật chứng:
  • Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu trắng xanh biển số 84H1-485.97, quá trình điều tra xác định xe này do ông Dương Tài N2 là chủ sở hữu. Ông N2 giao xe cho ông Thạch Chí T1 sử dụng. Do đó Cơ quan điều tra Công an Q đã giao trả xe cho ông D Tài Năng là đúng quy định.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02S màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Nguyễn Minh T là tài sản thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần giao trả lại cho bị cáo.
  • Đối với 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần thun ngắn màu đen, 01 ví tiền màu nâu là tài sản thu giữ của bị cáo hiện không còn giá trị sử dụng và bị cáo cũng không có nhu cầu được nhận lại nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đỗ Nguyễn Minh T đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Đỗ Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 22/01/2025.

Áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.

  • - Giao trả bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02S màu đen, đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Nguyễn Minh T.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay màu trắng, 01 quần thun ngắn màu đen, 01 ví tiền màu nâu đã qua sử dụng.

(Tài sản giao trả, tịch thu tiêu hủy được ghi trong Quyết định chuyển vật chứng số 55/QĐ-VKS-Q3 của Viện kiểm sát nhân dân Quận B)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND Quận B;
  • - Công an TP. HCM;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa CA TP. HCM;
  • - Công an Quận B;
  • - Nhà tạm giữ CAQ.B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q.B;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ (TK. Phương).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B TP. HỒ CHÍ MINH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 56/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đỗ Nguyễn Minh T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger