|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 56/2025/HS-ST Ngày 23 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Lương Anh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- - bà Lò Thị Quỳnh .
- - bà Bồ Thị Thái.
- Thư ký phiên tòa: ông Đào Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: ông Hoàng Mạnh Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2025/TLST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/HSST - QĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 241/TB – TA, ngày 16/5/2025 đối với bị cáo:
- Mai Đức H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 02/02/1960 tại huyện P, tỉnh Hưng Yên. Nơi thường trú: tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Đảng phái, đoàn thể: Đảng viên Đ1 (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định đình chỉ sinh hoạt số 121 – QĐ/UBKTTU, ngày 09/9/2024 của Ủy ban kiểm tra thành ủy S5). Bị cáo con ông Mai Xuân S (đã chết) và bà Nguyễn Thị S1, có vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1963 và có 01 con Mai Hoàng H1, sinh năm 1988. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/9/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S – Người đại diện theo pháp luật: ông Lường Minh T – Quyền giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền (theo công văn số 42/PYGĐYK – PY, ngày 22/5/2025 của Trung tâm pháp y - Giám định y khoa tỉnh S): bà Mai Thị T1 – Cán bộ Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S, có mặt tại phiên tòa.
- - Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1973; Địa chỉ: bản T, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Ông Bàn Văn S2, sinh năm 1976; Địa chỉ: tiểu khu bản M, thị trấn M, huyện M (nay là tổ dân phố E, phường M, thị xã M), tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bà Trần Thu H2, sinh năm 1981; Địa chỉ: tiểu khu bản M, thị trấn M, huyện M (nay là tổ dân phố E, phường M, thị xã M), tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Ông Hoàng T3 – Nguyên giám đốc Trung tâm Pháp y tỉnh S; Địa chỉ: tổ H, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1973, trước đây trú tại bản T, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay cư trú tại bản Tà Làng T, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La) bị Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 218/2013/HS-ST, ngày 20/9/2013. Sau khi Bản án số 218/2013/HS – ST của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu có hiệu lực pháp luật, ngày 25/11/2013, ông T2 đến Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu nộp đơn xin hoãn thi hành án, kèm theo Bệnh án của Bệnh viện đa khoa huyện M với chẩn đoán suy tim độ II. Cùng ngày, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y về tình trạng sức khoẻ và bệnh tật số 01/2013/QĐ – GĐ đối với Đỗ Văn T2. Quyết định trưng cầu giám định và bệnh án của ông T2 được ông Bàn Văn S2, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu bỏ trong một phong bì dán kín, đưa cho ông T2 trực tiếp mang đến Trung tâm Pháp y tỉnh S để tiến hành giám định.
Bị cáo Mai Đức H là Giám định viên, Phó Giám đốc Trung tâm P là người trực tiếp thực hiện việc giám định. Bị cáo H khai trong quá trình điều tra: Trước khi tiếp nhận hồ sơ trưng cầu giám định của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu do ông T2 đưa đến, có người đàn ông điện thoại cho bị cáo H, tự xưng tên là S2, công tác tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, nhờ giúp đỡ kết luận cho người quen bị bệnh suy tim độ III để được hoãn chấp hành án. Do có quan hệ phối hợp công tác, giao lưu với cán bộ của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, nên bị cáo H đã nể nang, nhận lời giúp. Sau khi tiến hành giám định, H trực tiếp soạn thảo Bản kết luận giám định về bệnh tật số 110/TTPY-CM, ngày 04/12/2013 kết luận ông Đỗ Văn T2 bị suy tim độ II (theo tiêu chuẩn NYHA) cần điều trị liên tục và kéo dài. Bản kết luận được lập thành 02 bản, trong đó 01 bản lưu tại Trung tâm P, còn 01 bản được H sửa một số dấu hiệu lâm sàng và mức độ bệnh tật của bị án T2 từ suy tim độ II thành suy tim độ III, rồi sau đó đưa cho ông Hoàng T3 - Giám đốc Trung tâm P ký, đóng dấu gửi Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu. Ngày 26/12/2013, căn cứ vào Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 110/TTPY-CM, ngày 04/12/2013 của Trung tâm Pháp y tỉnh S, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu ra Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù số 02/2013/QĐ-CA đối với bị án Đỗ Văn T2 trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày ký.
Tới cuối năm 2014, ông T2 tiếp tục gửi Đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù gửi Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu. Ngày 19/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu ra Quyết định trưng cầu giám định số 04/2014/QĐ-GĐ về tình trạng sức khoẻ và bệnh tật của bị án T2. Quyết định trưng cầu kèm theo Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 110/TTPY-CM, ngày 04/12/2013 của Trung tâm P (bản photo) được ông S2 bỏ trong 01 phong bì dán kín để đưa cho ông T2 tự mang đến nộp tại Trung tâm P. Bị cáo H là người trực tiếp nhận Quyết định trưng cầu giám định nhưng không cập nhật vào sổ công văn đến, không tiến hành giám định, đã tự soạn thảo thành 01 Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 104/BT ngày 20/11/2014 kết luận ông Đỗ Văn T2 bị suy tim độ III, sau đó trình ông Hoàng Thích K, đóng dấu phát hành để gửi cho Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu nhưng không vào sổ trả kết quả giám định theo quy định. Căn cứ vào Bản kết luận giám định pháp y số 104/BT, ngày 20/11/2014 này, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu ra Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù số 01/2014/QĐ-CA, ngày 26/12/2014, đối với bị án Đỗ Văn T2 trong thời hạn 12 tháng.
Đến khoảng tháng 7/2015, do bị án T2 đã được hoãn thi hành án 02 lần, thuộc diện được đề nghị xét đặc xá; Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu đã lập hồ sơ đề nghị xét đặc xá đối với bị án T2 và được các cơ quan tư pháp của huyện chấp nhận, chuyển hồ sơ đề nghị Hội đồng xét đặc xá cấp tỉnh xem xét. Tuy nhiên, tính đến thời điểm lập hồ sơ đề nghị xét đặc xá, Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 104/BT, ngày 20/11/2014 đã quá thời hạn 06 tháng, cần phải thực hiện giám định lại theo quy định. Ngày 04/8/2015, TAND huyện Mộc Châu ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y về tình trạng sức khoẻ và bệnh tật số 03/2015/QĐ-GĐ đối với Đỗ Văn T2. Do Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu phải gửi kết quả giám định trong ngày 05/8/2015 để kịp chuẩn bị hồ sơ xét đặc xá đối với bị án, nên ngay trong ngày 04/8/2015, ông Bàn Văn S2 đã đề xuất Lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, báo cho ông T2 thuê xe ô tô đi cùng để trực tiếp mang Quyết định trưng cầu giám định đến Trung tâm P. Trên đường đi, ông S2 hỏi được số điện thoại của bị cáo H nên đã chủ động gọi trước và được bị cáo H hẹn gặp tại Trung tâm Pháp y. Khi đến nơi, ông S2 đưa cho H hồ sơ trưng cầu giám định và đề nghị làm giám định sớm để chuyển kết quả cho Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La. H đã tiếp nhận hồ sơ và tài liệu trưng cầu giám định nhưng không cập nhật hệ thống sổ sách của Trung tâm Pháp y, không tiến hành giám định, chỉ dựa vào thông tin có sẵn trên máy tính đã soạn thảo 01 Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật, tự ghi số 19/BT, ngày 05/8/2015, kết luận ông Đỗ Văn T2 bị suy tim độ III, ký vào mục “GIÁM ĐỊNH VIÊN”, sau đó đưa ông Hoàng Thích K, đóng dấu phát hành rồi gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La. Ngày 31/8/2015, bị án Đỗ Văn T2 được cấp giấy chứng nhận đặc xá, không phải chấp hành hình phạt tù.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu thập các tài liệu liên quan liên quan đến việc giám định pháp y về bệnh tật đối với bị án T2. Ngày 07/4/2021 Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 19/VKSTC – C1 (P8), để yêu cầu giám định đối với mẫu dấu và chữ ký trên Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 110/TTPY-CM ngày 04/12/2013 kết luận Đỗ Văn T2 suy tim độ III và Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 104/BT ngày 20/11/2014 của Trung tâm P (không trưng cầu giám định đối với Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 19/BT ngày 05/8/2015 vì chỉ thu thập được bản photo).
Tại Bản kết luận giám định số 98/GĐKTHS-P11, ngày 13/5/2021 của Phòng G - Bộ Q đã kết luận: Mẫu dấu chức danh “BSCK I. Mai Đức H”, chữ ký nháy và chữ ký dưới mục Giám định viên là của bị can Mai Đức H; chữ ký dưới mục Giám đốc, Giám đốc Giám định viên là của ông Hoàng T3; hình dấu tròn “SỞ Y TẾ TRUNG TÂM GIÁM ĐỊNH PHÁP Y TỈNH SƠN LA” đóng trên - tài liệu là dấu của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh S.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Đức H khai nhận:
Bị cáo công tác tại Trung tâm Pháp y tỉnh S, là Giám định viên, Phó giám đốc của Trung tâm và là người chịu trách nhiệm chính về chuyên môn, trực tiếp tiến hành giám định và soạn thảo kết luận giám định, do vì động cơ cá nhân và do nể nang cán bộ của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La nhờ giúp đỡ, bị cáo đã sửa chữa nội dung Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 110/TTPY-CM, ngày 04/12/2013 do Trung tâm Pháp y tỉnh S ban hành đối với bị án Đỗ Văn T2 (bản gửi đến Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu) từ suy tim độ II thành suy tim độ III (theo tiêu chuẩn NYHA) để đủ điều kiện được hoãn chấp hành hình phạt tù cho bị án T2; ngoài ra còn làm giả 01 Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 104/BT, ngày 20/11/2014 và 01 Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 19/BT, ngày 05/8/2015 kết luận Đỗ Văn T2 bị suy tim độ III. Mục đích bị cáo sửa chữa nội dung và làm giả bản kết luận giám định là để làm căn cứ cho Đỗ Văn T2 được đủ điều kiện hoãn chấp hành án phạt tù và được xét đặc xá.
Trình bày tại phiên tòa, bà Mai Thị T1 – Đại diện theo ủy quyền của Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S trình bày:
Đối với các tài liệu gốc mà cơ quan điều tra thu giữ của Trung tâm Pháp y tỉnh S (nay là Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S) để làm mẫu đi giám định chữ ký, chữ viết, mẫu dấu, bao gồm là các bản giám định pháp y về bệnh tật, giám định pháp y về thương tích, giám định pháp y về tình dục. Hiện nay cơ quan điều tra chưa trả lại cho Trung tâm và đang được lưu trữ theo hồ sơ vụ án, do đây là những tài liệu gốc phải lưu trữ trong hồ sơ của đơn vị nên tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S những tài liệu trên để lưu trữ, quản lý.
Đối với cá nhân ông Mai Đức H, nguyên là Giám định viên – Phó giám đốc Trung tâm Pháp y tỉnh S. Trong thời gian công tác tại đơn vị, ông H luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có nhiều thành tích trong công tác, được ngành và địa phương tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen, ông H luôn gương mẫu, đi đầu trong các hoạt động của đơn vị, không có hành vi vi phạm pháp luật, hiện nay ông H đã nghỉ hưu, tuổi cao, sức khỏe yếu, nhiều bệnh tật và còn phải chăm sóc mẹ ruột đã già yếu nên thay mặt Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho ông H, cho ông H được cải tạo, giáo dục tại địa phương để ông H có điều kiện chăm sóc sức khỏe và chăm lo cho mẹ già.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số: 4684/CT-VKSTC-V6, ngày 14/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã truy tố đối với bị cáo Mai Đức H về tội Giả mạo trong công tác quy định tại điểm b, c khoản 2 điều 359 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, là cơ quan được Viện kiểm sát nhân dân Tối cao phân công thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mai Đức H phạm tội Giả mạo trong công tác theo quy định tại điểm b, c khoản 2 điều 359 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 điều 359; điểm s, v khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 54; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 điều Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: áp dụng điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại ngay các tài liệu gốc, là các tài liệu Cơ quan điều tra đã thu giữ để phục vụ công tác giám định hiện có trong hồ sơ vụ án, gồm các bản giám định pháp y về bệnh tật, giám định pháp y về thương tích, giám định pháp y về tình dục (gồm 11 bản) để Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S quản lý, sử dụng.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Đây là vụ án do Cơ quan Điều tra Viện kiểm sát nhân dân Tối cao khởi tố và Viện kiểm sát nhân dân Tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra và đã quyết định việc truy tố. Trước khi kết thúc điều tra 02 tháng, Viện kiểm sát cấp trên đã thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La cùng cấp với Tòa án nhân dân thành phố Sơn La có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định tại điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, những người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án là các ông bà Đỗ Văn T2, Bàn Văn S2, Trần Thu H2và Hoàng T3 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, đã có đầy đủ ý kiến, lời khai của những người có nghĩa vụ liên quan trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người có nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp theo quy định tại điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Mai Đức H đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình là Giám định viên – Phó giám đốc Trung tâm Pháp y tỉnh S và là người chịu trách nhiệm chính về chuyên môn, trực tiếp tiến hành giám định và soạn thảo kết luận giám định, vì động cơ cá nhân bị cáo đã sửa 01 bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 110/TTPY-CM, ngày 04/12/2013 đối với bị án Đỗ Văn T2 từ suy tim độ II thành suy tim độ III (theo tiêu chuẩn NYHA); sau đó bị cáo làm giả 01 bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 104/BT, ngày 20/11/2014 và làm giả 01 bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 19/BT, ngày 05/8/2015 kết luận Đỗ Văn T2 bị suy tim độ III. Từ các tài liệu này, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã 02 lần ra quyết định hoãn thi hành án phạt tù đối với bị án Đỗ Văn T2 trong các năm 2013, 2014 và lập hồ sơ để cơ quan chức năng xét đặc xá cho bị án T2 trong năm 2015, dẫn đến bị án T2 không phải chấp hành hình phạt tù theo Bản án hình sự số 218/2013/HS-ST, ngày 20/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết luận giám định số 98/GĐKTHS-P11, ngày 13/5/2021 của Phòng Giám định Kỹ thuật hình sự - Bộ Q, phù hợp với lời khai của người có nghĩa vụ liên quan.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Mai Đức H đã phạm tội Giả mạo trong công tác, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b, c khoản 2 điều 359 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Mai Đức H là người có trách nhiệm tại Trung tâm P – giám định y khoa tỉnh Sơn La, đã lập 01 bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 110/TTPY-CM, ngày 04/12/2013 đối với bị án Đỗ Văn T2 từ suy tim độ II thành suy tim độ III; sau đó bị cáo làm, cấp giả 02 bản kết luận Đỗ Văn T2 bị suy tim độ III vào các năm 2014, 2015. Hành vi phạm tội của bị cáo đã định khung hình phạt theo quy định tại điểm b, c khoản 2 điều 359 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tù từ 03 đến 10 năm tù và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức, biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không những gây nguy hiểm cho xã hội mà còn xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới bảo đảm biện pháp cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong giai đoạn hiện nay, tuy nhiên cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo hiện tuổi đã cao.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trong quá trình công tác bị cáo có nhiều thành tích, được cơ quan chức năng có thẩm quyền tặng nhiều bằng khen, giấy khen, bị cáo có bố đẻ là ông Mai Xuân S - là người có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ bảo vệ Tổ quốc, được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 02 Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, ngoài ra trong gia đình bị cáo còn có nhiều người thân có thành tích trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, được tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính: Bị cáo Mai Đức H phạm tội Giả mạo trong công tác theo khoản 2 điều 359 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm tù. Nhận thấy bị cáo Mai Đức H tuổi đã cao, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, gia đình bị cáo có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo và cam kết trong việc giáo dục, quản lý bị cáo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Đề nghị xin được hưởng án của bị cáo là phù hợp với quy định tại điều 65 Bộ luật Hình sự và phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước nên cần xem xét chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo và buộc bị cáo phải chịu một thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú giám sát và giáo dục theo quy định của pháp luật.
Do bị cáo hiện đang bị tạm giam nên cần xem xét thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do cho bị cáo Mai Đức H ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện đã nghỉ việc, tuổi cao, sức khỏe yếu, không có thu nhập, sống phụ thuộc vào gia đình và còn phải chăm sóc mẹ ruột đã già yếu, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 điều 359 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng, tài sản: Đối với các tài liệu bản gốc (bản chính) mà cơ quan điều tra đã thu giữ của Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S trong quá trình điều tra, bao gồm:
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 110/TTPY-CM, ngày 04/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Đỗ Văn T2.
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 106/TTPY-CM, ngày 03/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Trương Bá S3;
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 107/TTPY-CM, ngày 03/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Nguyễn Văn K1;
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 108/TTPY-CM, ngày 03/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Trần Duy L;
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 109/TTPY-CM, ngày 10/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Lê Văn N;
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 22/2013/TD, ngày 22/11/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Hà Thị H3;
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 103/BT, ngày 30/9/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Nguyễn Văn P;
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 104/TGT, ngày 01/10/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Nguyễn Viết D;
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 106/TGT, ngày 26/9/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Hoàng Thị Đ;
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 102/TgT, ngày 29/9/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Hoàng Văn S4;
- 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 105/BT, ngày 06/10/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Nguyễn Văn Y.
Đây là các tài liệu gốc được lưu trữ trong hồ sơ của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh S (nay là Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S), đã được cơ quan điều tra thu giữ để làm mẫu so sánh đi giám định chữ viết, chữ ký với các tài liệu bị cáo H đã cung cấp cho Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, sau khi có kết luận giám định các tài liệu này hiện đang có trong hồ sơ vụ án. Để bảo đảm công tác theo dõi, lưu trữ, bảo quản và tại phiên tòa, đại diện Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S có đề nghị yêu cầu trả lại những tài liệu trên cho Trung tâm, xét thấy việc trả lại những tài liệu bản gốc (bản chính) trên cho Trung tâm pháp y lưu trữ, bảo quản không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, do đó cần trả lại ngay những tài liệu trên cho Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Đối với những người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
[9.1] Đỗ Văn T2 trong quá trình điều tra đã khai không quen biết và nhờ Giám định viên nào của Trung tâm Pháp y tỉnh S giúp T2 được hoãn thi hành án. Cuối năm 2013, anh T2 nhờ chị Trần Thu H2 liên hệ cơ quan chức năng làm thủ tục xin hoãn chấp hành án. Sau khi được Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu ra Quyết định hoãn chấp hành án, T2 đưa cho chị Hằng số tiền 60 triệu đồng để cảm ơn, nhưng không nhớ thời điểm đưa trước hay sau khi được hoãn chấp hành án, không nhớ đưa ở đâu. Trong lần xin hoãn chấp hành án tiếp theo vào cuối năm 2014, anh T2 nhờ Bàn Văn S2 là Thư ký Tòa án huyện M giúp đỡ và đưa cho S2 20 triệu đồng cảm ơn, nhưng không nhớ thời điểm, địa điểm và không có người chứng kiến. Trong đợt đặc xá năm 2015, T2 thuê xe chở S2 đến Trung tâm pháp y tỉnh S để làm nhanh, kịp thủ tục xét đặc xá, trong xe trên đường từ Trung tâm P về Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, T2 đưa cho S2 50 triệu đồng để cảm ơn. Quá trình điều tra xác định những nội dung khai báo của T2 không chính xác, T2 không nhờ H2 lo thủ tục hoãn chấp hành án mà tự đi khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện M, tự nộp đơn xin hoãn chấp hành án kèm bệnh án cho Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu và tự đến Trung tâm Pháp y nộp hồ sơ cho Giám định viên Mai Đức H để thực hiện giám định; nội dung khai Trường đưa tiền cho chị H2 và anh S2 không có cơ sở chứng minh. Do đó, không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Văn T2.
[9.2] Đối với chị Trần Thu H2, là người quen biết T2. Chị H2 không quen biết với anh Bàn Văn S2, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu và bị cáo Mai Đức H - Giám định viên Trung tâm Pháp y tỉnh S. Chị H2 khẳng định không nhận tiền và không giúp lo việc hoãn chấp hành án cuối năm 2013 như lời khai của T2. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của T2, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự của chị H2.
[9.3] Đối với ông Hoàng T3, nguyên Giám định viên - Giám đốc Trung tâm Pháp y tỉnh S, đã tin tưởng Mai Đức H là Giám định viên, là người chịu trách nhiệm về chuyên môn, đã không kiểm tra hồ sơ giám định do bị cáo H trình và đã ký ban hành các Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật đối với Đỗ Văn T2. Quá trình điều tra, không xác định được ông Hoàng T3 biết việc làm và động cơ của bị cáo H. Vì vậy, không có căn cứ để xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Hoàng Thích . Cơ quan Điều tra Viện kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành kiến nghị Sở Y tế tỉnh S tổ chức kiểm điểm trách nhiệm và phòng ngừa tội phạm chung là đúng quy định của pháp luật.
[9.4] Đối với ông Bàn Văn S2 - nguyên Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, được thủ trưởng đơn vị phân công theo dõi, quản lý các trường hợp chấp hành án phạt tù từ năm 2008 đến năm 2019. Quá trình điều tra không đủ cơ sở xác định ông S2 đã nhận tiền hay lợi ích vật chất khác của T2, cũng như việc ông S2 đưa tiền hay lợi ích vật chất khác để tác động, nhờ bị cáo H sửa chữa, làm giả các bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật đối với T2 trong các năm 2013, 2014 và 2015, do đó không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Bàn Văn S2. Việc ông S2 gọi điện, nhờ bị cáo H giúp đỡ việc giám định cho ông T2, ông S2 cũng không bàn bạc, báo cáo với lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu thời điểm giải quyết hồ sơ hoãn chấp hành hình phạt tù và xét đặc xá cho ông T2. Việc làm của ông Bàn Văn S2 đã không thực hiện đúng quy định của Luật Giám định Tư pháp năm 2012, đây là một trong những điều kiện để bị cáo Mai Đức H thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã ban hành Kiến nghị số 4077/KN-VKSTC-V6, ngày 25/3/2025 để Kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La để chỉ đạo kiểm điểm, xử lý trách nhiệm của ông Bàn Văn S2 và những lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu có liên quan đến việc trưng cầu giám định sức khoẻ, bệnh tật đối với bị án Đỗ Văn T2, do đó Hội đồng xét xử không Kiến nghị với Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La để chỉ đạo kiểm điểm, xử lý trách nhiệm của ông S2 và những lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu có liên quan nữa.
[10] Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên buộc bị cáo Mai Đức H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên do bị cáo là người cao tuổi, tại phiên tòa bị cáo có đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, do đó cần xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mai Đức H là phù hợp theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12; khoản 6 điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 điều 359; điểm s, v khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 Bộ luật Hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Mai Đức H phạm tội “Giả mạo trong công tác”.
- - Xử phạt bị cáo Mai Đức H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 23/5/2025.
Giao bị cáo Mai Đức H cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điều 299 và khoản 4 điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Mai Đức H đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại ngay cho Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, là bản gốc (bản chính) sau:
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 110/TTPY-CM, ngày 04/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Đỗ Văn T2.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 106/TTPY-CM, ngày 03/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Trương Bá S3.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 107/TTPY-CM, ngày 03/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Nguyễn Văn K1.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 108/TTPY-CM, ngày 03/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Trần Duy L.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 109/TTPY-CM, ngày 10/12/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Lê Văn N.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 22/2013/TD, ngày 22/11/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Hà Thị H3.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 103/BT, ngày 30/9/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Nguyễn Văn P.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 104/TGT, ngày 01/10/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Nguyễn Viết D.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 106/TGT, ngày 26/9/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Hoàng Thị Đ.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 102/TgT, ngày 29/9/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Hoàng Văn S4.
- - 01 (Một) Bản kết luận giám định pháp y về bệnh tật số 105/BT, ngày 06/10/2014 của Trung tâm pháp y tỉnh S đối với Nguyễn Văn Y.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12; khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- - Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mai Đức H.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Mai Đức H và Trung tâm Pháp y - Giám định y khoa tỉnh S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/5/2025); Những người có nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lê Lương Anh |
Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về giả mạo trong công tác
- Số bản án: 56/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giả mạo trong công tác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án hình sự thụ lý số: 59/2025/TLST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2025
