Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS-ST

Ngày: 27/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồ Cảnh, bà Nguyễn Thị Quế Anh

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Lê Hữu Lâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 17/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-HS ngày 11/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phạm Thị Tuyết C, sinh năm 1988; tại huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm G, xã G, (nay là khối G, thị trấn G), huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Như S (đã chết) và bà Cao Thị H, (đã chết); Có chồng ZHENG FU CHENG (Trịnh Phú T) và 02 con; Tiền án, Tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay. Có mặt.
  2. Họ và tên: Vy Văn N, sinh năm 1983, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Q, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn H1 và bà Vi Thị H2; Có vợ Vi Thị D và 02 con (con lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, Tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay. Có mặt.

Các bị hại:

  • - Anh Lương Văn H3, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Anh Lương Văn Đ, sinh năm 1990. Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Anh Lữ Thanh L, sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • - Anh Vi Văn L1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Anh Lương Văn Đ1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Bản H, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8/2023 (không nhớ ngày), Phạm Thị Tuyết C đang sinh sống, làm việc tại xưởng may ở tỉnh Phúc Kiến, nước Trung Quốc được ông chủ người Trung Quốc, không biết rõ họ tên, địa chỉ, chỉ biết tên tiếng việt thường gọi là “H4”. Ông chủ có trao đổi, thỏa thuận với C là “Đưa một người Việt Nam sang nước Lào bán cho ông chủ để đưa vào làm công ty lừa đảo, sẽ trả cho Phạm Thị Tuyết C số tiền 10.000.000 đồng/một người”. C đồng ý về Việt Nam tìm người lừa đưa sang nước Lào, để bán cho ông chủ người Trung Quốc lấy tiền.

Tháng 09/2023, do quen biết từ trước, C gọi điện thoại Zalo cho Vy Văn N nhờ về tìm người đưa sang Lào bán như ông chủ người Trung Quốc yêu cầu. Nhập hỏi làm công việc gì, C trả lời “công việc đánh máy tính”, nên N hẹn C về nhà mình (ở bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) để trao đổi thống nhất cụ thể. Tại nhà Vy Văn N, C trao đổi với N là “tìm người tầm trung niên đổ lại, biết sử dụng máy tính, biết chữ để đưa sang Lào bán cho ông chủ người Trung Quốc đưa vào làm công ty lừa đảo, lương mỗi tháng với số tiền 20.000.000 đồng, có chỗ ăn, chỗ ngủ, lương tháng ổn định”. Vy Văn N hỏi tiền công như thế nào, C nói tìm được một người sẽ trả cho số tiền 5.000.000 đồng, nhưng N không đồng ý, C nói vậy thì 8.000.000 đồng/một người, N vẫn không đồng ý. Sau đó N đưa ra giá 10.000.000 đồng/một người sẽ tìm người giao cho C. Nghe vậy, C nói để trao đổi lại với ông chủ người Trung Quốc, sau đó sẽ báo lại. Lúc này, C nói thêm với N là chi phí của những người đi, bên ông chủ người Trung Quốc sẽ lo toàn bộ, không mất đồng nào, nếu tìm được người thì thông báo cho C biết để hướng dẫn phương thức đi lại.

Sau khi trao đổi với Vy Văn N, Phạm Thị Tuyết C đi ra tỉnh Lào Cai, liên lạc với ông chủ người Trung Quốc để thống nhất lại tiền công tìm người (nếu trả 10.000.000 đồng/01 người cho N thì C không có tiền công nên cần thỏa thuận lại). Ông chủ người Trung Quốc hứa sẽ trả thêm cho Phạm Thị Tuyết C là 15.000.000 đồng/một người (10.000.000 đồng đưa cho Vy Văn N, còn 5.000.000 đồng của Phạm Thị Tuyết C hưởng lợi). Đồng thời, ông chủ cũng đưa ra điều kiện là sau khi đưa người sang nước Lào, phải làm việc cho công ty sau một tháng thì mới thanh toán đủ tiền theo như thỏa thuận, còn khi người sang sẽ trả trước một ít tiền. Nghe vậy, Phạm Thị Tuyết C đồng ý và gọi điện cho Vy Văn N thống nhất thỏa thuận sẽ trả 10.000.000 đồng/một người.

Để tìm người cho Phạm Thị Tuyết C, Vy Văn N đến gặp trao đổi với anh Lương Văn H3 (sinh năm 1997, trú tại bản C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An), giới thiệu về việc làm ở bên Lào, nếu ai có nhu cầu công việc ở Lào thì rủ đi cùng và hẹn đến nhà sẽ rõ cụ thể nội dung công việc, nên anh H3 nói có thêm bạn em nữa. Ngày hôm sau anh H3 đi cùng với anh Lương Văn Đ, (sinh năm 1990); anh Lữ Thanh L, (sinh năm 1998) cùng trú tại cùng bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An đến nhà Vy Văn N gặp để trao đổi về việc đi sang Lào làm việc. Nhập nói với 03 người nội dung công việc đi qua Lào làm việc như sau: “Công việc nhẹ nhàng, chỉ đánh máy tính, với lương 20 triệu đông/tháng, nếu không biết việc thì sẽ được người ta sẽ đào tạo, có chỗ ăn ở thoải mái, cam kết sẽ được trả lương đây, không bị bóc lột, nếu họ không trả lương thì Vy Văn N sẽ trả lương cho” thì cả 03 người đồng ý. Nhập điện thoại cho C nói đã tìm được 03 người, C nói với N là tiếp tục tìm thêm người, được người nào hay người đó.

Sau đó, Vy Văn N tiếp tục gọi điện thoại cho em trai của mình là Vi Văn L1 (sinh năm 1992, trú tại bản Chào Mờ, xã C, huyện Q), hiện đang làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh nói “Sang bên Lào làm việc nhẹ, lương tháng khoảng 3000 NDT (tương đương từ 18 đến 20 triệu đồng). Nghe vậy, Vi Văn L1 đồng ý và nói sẽ rủ thêm Lương Văn Đ1, (sinh năm 1993, trú tại bản Luồng, xã C, huyện Q) bạn của L1 hiện đang cùng ở trọ và cũng không có việc làm. Vy Văn N gọi điện thoại lại thông báo cho C đã tìm thêm được 02 người và hỏi C là những người này không có giấy tờ tuy thân, hộ chiếu có đi được không. Chinh thông báo cho ông chủ người Trung Quốc đã tìm được 05 người và nhưng người này không có giấy tờ tùy thân và không muốn làm hộ chiếu. Ông chủ người Trung Quốc nói sẽ tìm đường đưa người sang Lào (đi chui), đến lúc đó sẽ có người liên lạc lại sau. C cũng báo lại cho N biết, đồng thời hướng dẫn N đưa những người muốn đi làm việc ở Lào ra Hà Nội tập trung ở nhà nghỉ gần bến xe Nước ngầm sẽ có người của ông chủ đưa đi.

Vào ngày 18/09/2023, có một người phụ nữ tự xưng là người của ông chủ Trung Quốc liên lạc qua Z nói với C là ngày 23/9/2023 sẽ có xe khách đến đón người và gửi biển số xe khách là 74F-001.04 qua Zallo để nhận biết đón. C thông báo lại cho N là ngày hôm nay phải đưa người ra Hà Nội nên N thông báo lại cho cả 05 người. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Vy Văn N cùng với Lương Văn H5, Lương Văn Đ và Lữ Thanh L lên xe khách Kha S1 đi từ huyện Q ra thành phố Hà Nội. Đến rạng sáng ngày 19/09/2023, Vy Văn N đưa H5, Đ và L ra đến bên xe Nước Ngầm, rồi cùng đi về nhà nghỉ H6 (địa chỉ: số A, đường G thuộc phường H, quận H, Hà Nội) theo sự hướng dẫn và gặp Phạm Thị Tuyết C tại đây.

Đến cuối chiều ngày 19/9/2023, Vi Văn L1 và Lương Văn Đ1 khi đang ở thành phố Hồ Chí Minh ra bắt xe khách đi Hà Nội nhưng không có tiền nên mượn điện thoại của nhà xe liên lạc với Vy Văn N để nói Nhập thanh toán tiền xe. Sau khi lấy được số tài khoản ngân hàng của nhà xe, N nói với C là hiện L1 và Đ1 không có tiền trả tiền xe ra Hà Nội nên đưa cho C để chuyển khoản thanh toán cho nhà xe. C dùng tài khoản 8888688789 của Ngân hàng Q (MB) mang tên Phạm Thị Tuyết C chuyển vào tài khoản số 34891097 mang tên Bùi Thị Y của Ngân hàng A với số tiền 1.600.000 đồng tiền vé cho L1 và Đ1 đi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội.

Sáng ngày 22/9/2023, anh Vi Văn L1 và anh Lương Văn Đ1 ra đến Hà Nội và tập trung tại nhà nghỉ H6 cùng cả nhóm để chờ đi sang nước Lào. Đến chiều cùng ngày, trong lúc cả nhóm đang ăn cơm, người phụ nữ của ông chủ yêu cầu cung cấp thẻ căn cước công dân của những người đi nên C yêu cầu N chụp hình ảnh thẻ căn cước công dân của anh Vi Văn L1 và anh Lương Văn Đ1 là những người đến sau gửi cho C. Sau đó, C dùng hình ảnh thẻ CCCD của anh Đ1 và anh L1 do N chụp gửi, tiếp tục gửi cho người cho người phu nữ của ông chủ có tài khoản Zallo là “Hòa Dung N”, còn 03 người còn lại C hẹn tí nữa xuống quầy lệ tân chụp.

Đến ngày 23/9/2023, có một người nhân viên xe khách gọi điện thoại cho Phạm Thị Tuyết C nói ra điểm ở khu vực đường vanh đai 3 để đón xe đưa 05 người lên xe đi sang nước Lào làm việc. Sau khi C và N đón xe, bàn giao anh Lương Văn H5, Lương Văn Đ, Lữ Thanh L, Vi Văn L1 và Lương Văn Đ1 lên xe ôtô do người của ông chủ Trung Quốc đón, C đi về Nam Định, còn N bắt xe trở về nhà tại huyện Q, Nghệ An. Còn 05 người bị đưa sang nước Lào qua đường C, tỉnh Quảng Trị, sau đó được đưa lên khu vực biên giới M, Trung Quốc, Lào (khu vực Tam giác vàng) và làm việc tại một công ty nằm trong khu vực lãnh thổ nước M. Sau khi biết mình bị bán vào làm việc ở Công ty lừa đảo trên không gian mạng và không được trả lương như Vy Văn N đã nói. Đến khoảng tháng 1 năm 2024, H5, Đ, L, L1 và Đ1 bỏ trốn khỏi công ty để tìm đường về Việt Nam. Khi trốn về đến khu vực biên giới Lào 05 người tiếp tục bị lừa đưa đi làm ở các công ty khác nhau ở khu vực gần biên giới nước Lào và sau đó không gặp nhau nữa.

Do quá trình Phạm Thị Tuyết C đã trao đổi, thống nhất với người chủ Trung Quốc và Vi Văn N1 nên C tin tưởng sẽ thực hiện thành công việc bán 05 người nêu trên và ông chủ người Trung Quốc sẽ trả đủ 75.000.000 đồng như đã thoả thuận. Từ ngày 06/9/2023 đến 13/12/2023, Phạm Thị Tuyết C đã dùng tiền cá nhân của mình đã chuyển khoản 04 lần từ tài khoản số 3750797775 mang tên Phạm Thị Tuyết C của Ngân hàng Đ2 (B) đến tài khoản số 3614205107575 mang tên Vy Văn N của Ngân hàng N2 (A1) với tổng cộng số tiền là 50.000.000 đồng như đã thỏa thuận ban đầu (10.000.000 đồng/một người). Sau khi được C thông báo 05 người này đã di chuyển để đi sang Lào, trong hai ngày 21-23/9/2023, ông chủ người Trung Quốc trả trước cho C số tiền 8.000 NDT (tương đương khoảng 25.000.000 đồng) như đã thỏa thuận ban đầu. Do những người bị C và N bán bỏ trốn khỏi nơi làm việc, nên ông chủ người Trung Quốc không trả số tiền còn lại là 50.000.000 đồng cho Phạm Thị Tuyết C. Số tiền Vy Văn N nhận được từ Phạm Thị Tuyết C đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau đó, từ ngày 26/01/2024 đến giữa tháng 8/2024 anh Lương Văn H5, Lương Văn Đ, Lữ Thanh L, Vi Văn L1 đã trở về Việt Nam, sống tại huyện Q. Còn anh Lương Văn Đ1, quá trình điều tra không xác định được đang ở đâu, làm gì.

Ngày 06/08/2024, anh Lương Văn Đ, anh Lương Văn H5 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An tố cáo Vy Văn N và Phạm Thị Tuyết C đã có hành vi bán anh Lương Văn H5, anh Lương Văn Đ cùng 03 người khác gồm: anh Lữ Thanh L, anh Vi Văn L1 và anh Lương Văn Đ1 sang nước Lào lấy tiền. Ngày 09/8/2024, Vy Văn N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q xin đầu thú và khai báo nội dung sự việc trên.

Ngày 26/11/2024 và ngày 28/11/2024, anh Lữ Thanh L, Vi Văn L1 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N làm việc, ngày 27/3/2025, anh Lương Văn Đ1 đến phiên tòa sơ thẩm và trình bày nội dung sự việc về hành vi phạm tội của Vy Văn N và Phạm Thị Tuyết C như đã nêu trên.

Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, bên trong gắn thẻ sim: 0862.758.567 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A8, màu xanh, bên trong gắn thẻ sim: 0862.089.194, thu giữ của Vy Văn N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, bên trong gắn hai thẻ sim: 0352.834.696 và +86 1345.954.6137 thu giữ của Phạm Thị Tuyết C.

- Về trách nhiệm dân sự: Anh Lương Văn H3, anh Lương Văn Đ và anh Vi Văn L1, anh Lương Văn Đ1 không có yêu cầu gì về phần dân sự đối với các bị cáo. Anh Lữ Thanh L yêu cầu bị cáo Phạm Thị Tuyết C phải bồi thường số tiền 30.000.000 đồng và Vy Văn N phải bồi thường số tiền 25.000.000 đồng.

Bị cáo Vy Văn N đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại Lương Văn Đ số tiền 5.000.000 đồng; Vi Văn L1 số tiền 20.000.000 đồng và anh Lữ Thanh L số tiền 25.000.000 đồng để khắc phục tổn thất tinh thần. Tổng số tiền đã bồi thường là 50.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Thị Tuyết C chưa bồi thường cho anh Lữ Thanh L.

Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSNA-P2 ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố các bị cáo Phạm Thị Tuyết C, Vy Văn N về tội “Mua bán người” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 150, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết C 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù về tội “Mua bán người”.

Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 150, điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vy Văn N 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán người”.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nưới 03 điện thoại thu giữ của các bị cáo.

Về dân sự: Buộc bị cáo Phạm Thị Tuyết C bồi thường cho anh Lữ Thanh L 30.000.000 đồng.

Truy thu của bị cáo Vy Văn N 50.000.000 đồng thu lợi bất chính.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, bị hại không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về các quyết định và hành vi tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 19/09/2023 đến ngày 23/9/2023, bị cáo Phạm Thị Tuyết C và Vy Văn N đã có hành vi bán 05 người gồm: anh Lương Văn H5, anh Lương Văn Đ, anh Lữ Thanh L, anh Vi Văn L1, và anh Lương Văn Đ1 cho một người đàn ông Trung Quốc đón đưa sang nước Công hòa dân chủ nhân dân Lào qua cửa khẩu L2, tỉnh Quảng Trị. Rồi đưa đến làm việc tại các Công ty lừa đảo để nhận số tiền theo thỏa thuận là 15.000.000 đồng/01 người. Phạm Thị Tuyết C đã nhận từ ông chủ người Trung Quốc số tiền 8.000 NDT (tương đương khoảng 25.000.000 đồng), Vy Văn N đã nhận số tiền 50.000.000 đồng từ Phạm Thị Tuyết C. Do đó, hành vi của các bị cáo Phạm Thị Tuyết C, Vy Văn N đã phạm tội “Mua bán người” với tình tiết “Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “Đối với từ 02 đến 05 người” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại đến quyền tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, truyền thống của người Việt Nam, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bản thân các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc làm của mình là sai trái nhưng vì vụ lợi cá nhân mà coi thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra mới đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung.
  4. Xét vai trò, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

    Bị cáo Phạm Thị Tuyết C là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Vy Văn N tìm người đưa sang Lào bán cho ông chủ người Trung Quốc nên bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Vy Văn N là người trực tiếp tìm người để C bán cho người đàn ông Trung Quốc, bị cáo phạm tội một cách tích cực, nếu không có bị cáo thì C cũng không có người để bán, vì vậy, bị cáo N có vai trò ngang bị cáo C.

    Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tặng nặng.

    Bị cáo Phạm Thị Tuyết C sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hị hại anh Lữ Thanh L đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo Vy Văn N sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo tác động gia đình bồi thường cho các bị hại nhằm khắc phục hậu quả tổn thất về tinh thần và các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, có ông ngoại là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo N có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo C nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn bị cáo C như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp.

  5. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Phạm Thị Tuyết C, Vy Văn N không có tài sản, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  6. Về trách nhiệm dân sự:

    Anh Lương Văn H3, anh Lương Văn Đ, anh Vi Văn L1, anh Lương Văn Đ1 không có yêu cầu gì về phần dân sự đối với các bị cáo. Anh Lữ Thanh L yêu cầu bị cáo Phạm Thị Tuyết C phải bồi thường số tiền 30.000.000 đồng và Vy Văn N phải bồi thường số tiền 25.000.000 đồng.

    Anh Lương Văn Đ số tiền 5.000.000 đồng; Vi Văn L1 số tiền 20.000.000 đồng và anh Lữ Thanh L số tiền 25.000.000 đồng để khắc phục tổn thất tinh thần. Tổng số tiền đã bồi thường là 50.000.000 đồng. Nay các bị hại này không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

    Bị hại Lữ Thanh L yêu cầu bị cáo Phạm Thị Tuyết C bồi thường số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo Tuyết C đồng ý bồi thường cho bị hại. Xét thấy, sự thỏa thuận của các bị cáo và bị hại là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.

  7. Về số tiền hưởng lợi bất chính:
    • - Đối với số tiền 50.000.000 đồng Vy Văn N thu lợi bất chính do phạm tội mà có cần truy thu sung quỹ nhà nước.
    • - Đối với số tiền bị cáo Phạm Thị Tuyết C hưởng lợi, bị cáo đã chi trả cho bị cáo Vi Văn N1 nên không truy thu của bị cáo C.
  8. Về vật chứng:
    • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, thu giữ của Vy Văn N và 01điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh tím trắng, thu giữ của Phạm Thị Tuyết C là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội của các bị cáo nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
    • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A8, màu xanh thu giữ của bị cáo Vy Văn N không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo;
  9. Các vấn đề khác:
    • [9.1] Đối với ông chủ người Trung Quốc có tên tiếng việt thường gọi là “H4”, là người trực tiếp mua các bị hại từ Phạm Thị Tuyết C. Quá trình điều tra đến nay không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan điều tra Công an tỉnh N tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
    • [9.2] Đối với người phụ nữ tự xưng là người của ông chủ người Trung Quốc liên lạc với Phạm Thị Tuyết C hướng dẫn đón bị hại nêu trên lên xe khách và đi sang nước Lào. Quá trình điều tra đến nay không xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra Công an tỉnh N tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
    • [9.3] Đối với chiếc xe khách có biển số 74F-001.04 của Công ty TNHH X, có địa chỉ tại khu phố A, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị do bà Đỗ Thị S2, sinh năm 1959 làm giám đốc. Xe chạy tuyến cố định từ Lạng Sơn- Hà Nội (nước ngầm)- thành phố H và ngược lại, không đi lên Cửa khẩu L2. Do sự việc xảy ra đã lâu, khách đặt vé qua điên thoại, lên xuống dọc đường nên không xác định được ai tiếp nhận nên không có cơ sở để xử lý.
  10. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Phạm Thị Tuyết C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 150, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết C 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 09/8/2024.
  2. Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 150, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vy Văn N 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 09/8/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo Phạm Thị Tuyết C, Vy Văn N.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Phạm Thị Tuyết C bồi thường cho anh Lữ Thanh L số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về vật chứng:
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, thu giữ của Vy Văn N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh tím trắng, thu giữ của Phạm Thị Tuyết C.
    • - Trả lại cho bị cáo Vy Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A8, màu xanh;

    Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

    - Truy thu của bị cáo Vy Văn N 50.000.000 đồng thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

  5. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm Thị Tuyết C, Vy Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phạm Thị Tuyết C phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều các 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  6. Các bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã, phường nơi cư trú của bị cáo;
  • - Các bị cáo; bị hại.
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồ Cảnh

Nguyễn Thị Quế Anh

Nguyễn Thị Thu Từ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự - tội mua bán người

  • Số bản án: 56/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Mua bán người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Tuyết C và đồng phạm mua bán người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger