Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 56/2025/HS-ST

Ngày: 18-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàng
  2. Ông Thái Hoàn Xanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Trương Thế Nhựt T, sinh năm 1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: A Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thế V (chết) và bà Cún Sập M; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 22/3/2019, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 26/3/2024 chấp hành xong án tù, đã đóng án phí, chưa xóa án tích, Tiền sự: không, nhân thân: Ngày 12/6/2007, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (bản án số 114/2007/HSST), đến ngày 13/02/2008 chấp hành xong án tù, đã đóng án phí, đã xóa án tích. Ngày 03/03/2009, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (bản án số 63/2009/HSST), đến ngày 05/3/2011 chấp hành xong án tù, đã đóng án phí, đã xóa án tích. Ngày 12/7/2011, bị U quyết định đưa vào Trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội Bình Triệu quản lý, giáo dục và chữa bệnh từ ngày 28/6/2011 đến ngày 28/6/2013. Ngày 28/4/2014, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 101/2014/HSST), đến ngày 08/7/2015 chấp hành xong án tù, đã đóng án phí, đã xóa án tích, Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2024 – Có mặt

2/ Nguyễn Minh T1, sinh năm 1983, tại Đồng Nai; Thường trú: 375/95/16 L, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Nhà không số, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T2 (chết) và bà Trương Thị Xuân P; hoàn cảnh gia đình: Có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án: không, tiền sự: không, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2024 – Có mặt

- Bị hại: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1963 – Vắng mặt

Địa chỉ: C lô T, Chung cư N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 10 giờ 45 phút ngày 23/10/2024, Trương Thế Nhựt T đi bộ qua nhiều tuyến đường từ Quận E qua quận T tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày T đi đến trước nhà số A T, phường P, quận T thì phát hiện nhà trên không đóng cửa, trong sân có 4 – 5 chiếc xe gắn máy không ai trông coi, T nảy sinh ý định trộm cắp xe máy trong nhà trên, T quan sát xung quanh và nhìn vào nhà thấy không có ai trông coi tài sản, T lén lút đi vào trong nhà lấy đoản đã chuẩn bị trước ở túi quần sau để bẻ khóa xe máy nhưng chợt thấy xe Yamaha Jupiter biển số 59U2-642.72 có cắm sẵn chìa khóa nên T lén lút dẫn xe trên lùi ra đường hẻm rồi ngồi lên xe nổ máy tẩu thoát.

Sau khi trộm được xe T điều khiển xe chạy đến số B Â, Phường I, quận T gặp Nguyễn Minh T1 để chào bán xe này. Khi đến nơi, T thấy T1 đang ngồi uống cà phê, lúc này quán đang đông khách nên T rủ T1 điều khiển xe Wave của T1 chạy theo T đến bãi giữ xe lô C, chung cư C, Phường A, Quận A để xem xe. Tại đây T nói cho T1 biết xe Yamaha Jupiter biển số 59U2-642.72 mới trộm được ở quận T và chào bán xe này cho T1. T1 đồng ý mua xe với giá 4.000.000 đồng, T1 dùng tài khoản Momo số 0931909140 tên NGUYEN MINH THIEN chuyển 3.300.000 đồng vào tài khoản số 0938049658 của T mang tên TRUONG THE NHUT TOAN mở tại Ngân hàng M1, đồng thời đưa tiền mặt 400.000 đồng cho T, còn thiếu 300.000 đồng thì T1 sẽ trả cho T sau. Sau đó T1 mang xe Yamaha Jupiter biển số 59U2-642.72 gửi tại bãi xe lô C, chung cư C, Phường A, Quận A. T1 sử dụng xe Yamaha Jupiter biển số 59U2-642.72 đến ngày 30/10/2024 thì Công an quận T kết hợp với Công an xã V, huyện B kiểm tra hành chính tại nhà không số, ấp A, xã V, huyện B phát hiện, thu giữ xe máy trên và đưa T1 về làm việc.

Ngày 30/10/2024, Trương Thế Nhựt T bị Công an P1, Quận A kiểm tra phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên đưa T vào cơ sở cai nghiện Nhị Xuân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T làm thủ tục đưa T về trụ sở để làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Trương Thế Nhựt T và Nguyễn Minh T1 thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Bản kết luận định giá tài sản số 2644/KL-HĐĐGTS ngày 01/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận T thời điểm định giá ngày 23/10/2024 kết luận: “01 xe Yamaha Jupiter biển số 59U2-642.72 có giá trị là 20.000.000 đồng”.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe gắn máy Yamaha Jupiter biển số 59U2-642.72. Qua giám định, xe có số khung, số máy không đổi. Qua xác minh, xe gắn máy trên do ông Nguyễn Chí H đăng ký chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại xe cho ông Nguyễn Chí H.
  • 01 điện thoại di động OPPO F11 màu trắng, số IMEI1: 863511046737195, số IMEI2: 863511046737187, đã qua sử dụng (là điện thoại của Nguyễn Minh T1 dùng để chuyển tiền mua xe cho T).

Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 85/PNK ngày 23/01/2025 của Công an quận T.

Về phần dân sự: ông Nguyễn Chí H đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số: 67/CT-VKSQTP ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Thế N Toàn tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Minh T1 tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị:

  • Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Thế Nhựt T từ 02 năm đến 03 năm tù.
  • Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 từ 01 năm đến 02 năm tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của các bị cáo:

Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 23/10/2024, tại nhà số A T, phường P, quận T, Trương Thế Nhựt T trộm cắp xe gắn máy Yamaha Jupiter biển số 59U2-642.72 trị giá 20.000.000 đồng của ông Ngô Chí H1, sau đó bán xe gắn máy trên cho Nguyễn Minh T1, dù biết xe do T trộm cắp mà có nhưng T1 vẫn đồng ý mua xe với giá 4.000.000 đồng thì bị bắt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trương Thế Nhựt T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân các bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên các bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục các bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T đã có tiền án về tội cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm nên cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T và bị cáo T1 tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Bị cáo T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác do đó Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 01 xe gắn máy Yamaha Jupiter biển số 59U2-642.72. Qua giám định, xe có số khung, số máy không đổi. Qua xác minh, xe gắn máy trên do ông Nguyễn Chí H đăng ký chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại xe cho ông Nguyễn Chí H. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

- 01 điện thoại di động OPPO F11 màu trắng, số IMEI1: 863511046737195, số IMEI2: 863511046737187, đã qua sử dụng (là điện thoại của Nguyễn Minh T1 dùng để chuyển tiền mua xe cho T). Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự;
  2. Tuyên bố bị cáo Trương Thế Nhựt T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ Điều 323 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  3. [2] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
  4. Xử phạt: Trương Thế Nhựt T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2024

    Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt: Nguyễn Minh T1 01 (một) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  5. [3] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
  6. [4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  7. - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động OPPO F11 màu trắng, số IMEI1: 863511046737195, số IMEI2: 863511046737187

    (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 85/PNK ngày 23/01/2025 của Đội cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận T).

  8. [5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  9. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  10. [6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  11. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh(1);
  • - VKSND quận Tân Phú (3);
  • - THADS quận Tân Phú (1);
  • - THAHS quận Tân Phú (2);
  • - Phòng PC53 CА Тр. HCM (1);
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – Phân
  • Trại khu vực Tân Phú (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Sở Tư Pháp (1);
  • - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (18)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 56/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger