Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ B

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 56/2025/HS-ST

Ngày: 16-4-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Huế và bà Lê Thị Thanh Nhàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS, ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Bá N, tên gọi khác: Q, sinh ngày 18/12/1969; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Số nhà H N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Xây dựng; con ông Nguyễn Bá X (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Ngọc T (đã chết); con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất nhất 2009; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Họ và tên: Đỗ Văn D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 19/4/1989; tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số B đường G, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Đỗ Văn M1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; vợ: Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1988; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất 2019; tiền án, tiền sự: không.

- Nhân thân:

  • Ngày 26/7/2005, Đỗ Văn D bị UBND xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
  • Ngày 21/11/2005, Đỗ Văn D bị UBND huyện S, tỉnh Quảng Ngãi áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty K; địa chỉ: số G Y, phường L, thành phố B. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1982; địa chỉ: số B N, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  2. Công ty C; địa chỉ HT9 khu công nghiệp L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Thanh R, sinh năm 1991, chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.
  3. Công ty Cổ phần X1; địa chỉ: số G N, Phường B, thành phố B. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1956; địa chỉ: Số D N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
  4. Công ty cổ phần X1 Lâm Đồng – Xí nghiệp X2; địa chỉ: Số I Q, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Người đứng đầu là ông Lê Tuấn H sinh năm 1961; nơi thường trú: Số A đường I, T, Phường E, Quận H, Thành phố H; địa chỉ: Số A H, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.
  5. Công ty TNHH X3; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố B. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn Q2 sinh năm 1977; địa chỉ: Số A Quốc lộ B, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  6. Chị Nguyễn Thị M2, sinh năm 1988; địa chỉ: Số D T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bá N làm giám đốc của công ty TNHH X4 (hiện đã tạm ngừng kinh doanh) và công ty TNHH M3 (hiện đang hoạt động), có trụ sở tại số H N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Thông qua mối quan hệ xã hội thì N quen biết với 01 người tên Minh P (chưa rõ nhân thân, lai lịch), P giới thiệu làm việc tại Công ty TNHH X5, MST: 5801488934, địa chỉ số E T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Công ty buôn bán vật liệu xây dựng có hóa đơn chứng từ hợp pháp theo quy định. Ngoài ra, P còn xuất được hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) của công ty TNHH X5 cho hàng hóa đầu vào nên P trao đổi, thỏa thuận với N nếu N có nhu cầu cần xuất hóa đơn GTGT đầu vào thì liên hệ với P, giá xuất hóa đơn là 3,5% giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn đối với mặt hàng sắt, xi măng, 04% giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn đối với mặt hàng cát, đá.

Đỗ Văn D là người kinh doanh bán lẻ mặt hàng cát xây dựng, D điều khiển xe ô tô chở cát từ tỉnh Bình Thuận đến chào hàng và bán hàng cho các cửa hàng vật liệu xây dựng, công ty, doanh nghiệp ở địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Từ năm 2021- 2022, Đỗ Văn D quen biết và bán cát nhiều lần cho Nguyễn Bá N. Trong năm 2023, D bán cát cho một số công ty, doanh nghiệp ở địa bàn thành phố B và thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì các công ty, doanh nghiệp yêu cầu D phải xuất hóa đơn GTGT theo quy định. Do D thu gom cát trôi nổi trên thị trường không có hóa đơn GTGT nên đã trao đổi với N tìm đơn vị có thể xuất hóa đơn GTGT thì N nhận lời xuất hóa đơn GTGT cho D với giá xuất hóa đơn là 07% giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn. D cung cấp cho N thông tin công ty mua hàng, giá trị hàng hóa sau đó N chuyển thông tin cho P để P xuất hóa đơn GTGT, khi có hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) thì P gửi hóa đơn qua ứng dụng mạng xã hội Z cho N rồi N tiếp tục chuyển cho D, khi nhận được hóa đơn GTGT thì D gửi cho kế toán các công ty kiểm tra. Sau khi các công ty mua cát của D chuyển tiền vào tài khoản cho công ty X5 và P thì công ty X5 và P giữ lại 3,5%-04% giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn, số tiền còn lại thì công ty X5 và P chuyển lại cho N. Sau khi nhận được tiền thì N giữ lại phần chênh lệch từ 03%-3,5% giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn rồi chuyển tiền cát lại cho D. Thực tế giữa các công ty được xuất hóa đơn GTGT và công ty X5 không có bất cứ quan hệ giao dịch mua bán hàng hóa nào.

Nguyễn Bá N và Đỗ Văn D đã thông qua P mua 21 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) có ghi nội dung do công ty TNHH X5 xuất cho 05 công ty gồm:

  • - 03 hóa đơn GTGT số 277 ngày 13/9/2023, 453 ngày 30/10/2023, 281 ngày 14/9/2023 với tổng giá trị hàng hóa trước thuế là 59.481.818 đồng cho Công ty K, MST: 5801453988, địa chỉ: số G Y, phường L, thành phố B, người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1982, thường trú tại số B N, xã L, thành phố B.
  • - 09 hóa đơn GTGT số 208 ngày 21/8/2023, 215 ngày 23/8/2023, 249 ngày 05/9/2023, 369 ngày 06/10/2023, 444 ngày 27/10/2023, 445 ngày 27/10/2023, 449 ngày 28/10/2023, 450 ngày 28/10/2023, 460 ngày 31/10/2023 với tổng giá trị hàng hóa trước thuế là 3.861.120.000 đồng cho Công ty C, MST: 5801276496, địa chỉ HT9 khu công nghiệp L, phường L, thành phố B, giám đốc là ông Nguyễn Thanh R, sinh năm 1991.
  • - 05 hóa đơn GTGT số 65 ngày 06/7/2023, 163 ngày 08/8/2023, 235 ngày 29/8/2023, 370 ngày 06/10/2023, 498 ngày 10/11/2023 với tổng giá trị hàng hóa trước thuế là 563.560.000 đồng cho Công ty cổ phần X1 Lâm Đồng, MST: 5800000505, địa chỉ số G N, Phường B, thành phố B, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn Q1 sinh năm 1956, thường trú số D N, Phường B, thành phố B.
  • - 02 hóa đơn GTGT số 257 ngày 07/9/2023, 50 ngày 01/7/2023 với tổng giá trị hàng hóa trước thuế là 933.463.636 đồng cho Công ty cổ phần X1 Lâm Đồng – xí nghiệp X2, MST: 5800000505-001, địa chỉ số I Q, thị trấn Đ, huyện Đ, người đứng đầu là ông Lê Tuấn H sinh năm 1961, thường trú tại số A đường I T, Phường E, Quận H, Thành phố H, chỗ ở hiện nay số A H, Phường B, thành phố B.
  • - 02 hóa đơn GTGT số 494 ngày 09/11/2023, 382 ngày 10/10/2023 với tổng giá trị hàng hóa trước thuế là 133.361.818 đồng cho Công ty TNHH X3, MST: 5801444542, địa chỉ thôn C, xã Đ, thành phố B, người đại diện theo pháp luật là ông Đỗ Văn Q2 sinh năm 1977, thường trú tại số A Quốc lộ B, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.

Ngày 23/11/2023, Chi cục thuế khu vực B – Bảo Lâm ban hành thông báo về việc cảnh báo doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao về hóa đơn: Trong thời gian từ quý 2 năm 2023 công ty X5 phát sinh doanh thu đột biến, công ty xuất hóa đơn với giá trị lớn cho các công ty trong và ngoài tỉnh, cụ thể mặt hàng kinh doanh ghi trên hóa đơn là cát xây, cát tô; Tra cứu trên hệ thống quản lý thuế và hóa đơn ghi nhận: về mua vào trên ứng dụng quản lý hóa đơn điện tử chỉ có hóa đơn dịch vụ của Ngân hàng, không có các mặt hàng kinh doanh về cát và dịch vụ tương ứng; về bán ra qua rà soát dữ liệu hóa đơn điện tử bán ra từ ngày 01/7/2022 đến ngày 14/11/2023 ghi nhận giữa dữ liệu xuất hóa đơn bán ra trên hệ thống và dữ liệu trên tờ khai thuế GTGT lệch nhau (cụ thể dữ liệu xuất hóa đơn bán ra trên hệ thống có khai báo nhưng dữ liệu trên tờ khai thuế GTGT thì không khai báo); Về tình hình kê khai nộp thuế: có sự chênh lệch hóa đơn bán ra giữa số liệu tờ khai thuế với hóa đơn điện tử; Qua kết quả phối hợp với chính quyền địa phương xác minh địa chỉ hoạt động của doanh nghiệp tính đến thời điểm 14/11/2023 xác định công ty không có trụ sở làm việc, không có kho bãi và văn phòng đại diện tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh. Chi cục thuế khu vực B – Bảo Lâm có thông báo về việc người nộp thuế không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đã đăng ký.

Bản Cáo trạng số 45/CT-VKSBL, ngày 20 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố các bị cáo Nguyễn Bá N và Đỗ Văn D về tội “Mua bán trái phép hoá đơn” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá N và Đỗ Văn D phạm tội “Mua bán trái phép hoá đơn”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 203, Điều 35 và điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá N từ 50.000.000đ đến 70.000.000đ.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 203, Điều 35 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Văn D từ 60.000.000đ đến 80.000.000đ.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cơ quan CSĐT – Công an T1 đã thu giữ 21 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) đã ghi nội dung của công ty TNHH X5 gồm 09 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH C, 02 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH X3, 05 hóa đơn GTGT xuất cho công ty cổ phần X1 Lâm Đồng, 02 hóa đơn GTGT xuất cho công ty cổ phần X1 Lâm Đồng – xí nghiệp X2, 03 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH K. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm lưu hồ sơ vụ án.

Buộc bị cáo Nguyễn Bá N phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 21.900.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Bá N tự nguyện nộp số tiền 21.900.000 đồng để khắc phục hậu quả. Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

+ Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp gì với Kiểm sát viên.

+ Các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái do thiếu hiểu biết về pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T1, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Bá N và Đỗ Văn D đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản kết luận điều tra; nội dung kết luận giám định; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Đỗ Văn D là người kinh doanh mặt hàng cát xây dựng, D gom hàng hóa trôi nổi trên thị trường rồi bán lại cho các công ty, doanh nghiệp. Trong năm 2023, Đỗ Văn D chở cát xây dựng từ tỉnh Bình Thuận đến tỉnh Lâm Đồng để bán cho một số công ty, doanh nghiệp ở Tp . và thị trấn Đ, huyện Đ, nhưng không có hóa đơn GTGT theo quy định nên Đỗ Văn D đã thực hiện hành vi liên hệ và trao đổi, thỏa thuận với Nguyễn Bá N để tìm kiếm đơn vị có thể xuất hóa đơn GTGT đối với số hàng hóa là cát xây dựng mà D bán ở tỉnh Lâm Đồng. Nguyễn Bá N đã thực hiện hành vi đồng ý xuất hóa đơn GTGT cho D với giá xuất hóa đơn là 07% giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn. Sau đó N liên hệ với 01 đối tượng tên Minh P (chưa rõ nhân thân, lai lịch) xuất 21 hóa đơn GTGT có ghi nội dung do công ty TNHH X5 xuất cho 05 công ty, doanh nghiệp mà D đã bán cát gồm công ty TNHH C, công ty cổ phần X1 Lâm Đồng, công ty cổ phần X1 Lâm Đồng – xí nghiệp X2, công ty TNHH K và công ty TNHH X3 với giá xuất hóa đơn là 3,5%-4% giá trị hàng hóa trước thuế ghi trên hóa đơn nhằm thu lợi bất chính số tiền 21.900.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép hoá đơn”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, quy định của Nhà nước về quản lý tài chính tiền tệ, đồng thời xâm phạm đến hoạt động quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán hóa đơn trái phép bị phạm luật nghiêm cấm, nhưng với thái độ xem thường kỷ cương pháp luật nhằm mục đích tư lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân: Bị cáo N có nhân thân tốt. Bị cáo D đã bị xử phạt vi phạm hành chính năm 2005, đã được xóa gần 20 năm.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Bá N đã nộp tiền khắc phục hậu. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo N được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét, tính chất, mức độ của các bị cáo như sau: Bị cáo Nghĩa là người liên hệ để thực hiện hành vi phạm tội nên tính chất, mức độ cao hơn. Bị cáo danh là người thực hiện hành vi phạm tội cùng với N Nên tính chất, mức độ thấp hơn.

[8] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu và thuộc trương hợp ít nghiêm trọng, không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà chỉ cần xử phạt bằng hình phạt tiền cũng đủ răn đe và phòng ngừa. Vì vậy, áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

[9] Các vấn đề khác:

Đối với 05 công ty, doanh nghiệp gồm công ty TNHH C, công ty cổ phần X1 Lâm Đồng, công ty cổ phần X1 Lâm Đồng – xí nghiệp X2, công ty TNHH K và công ty TNHH X3 đã có hành vi mua cát của Đỗ Văn D sau đó sử dụng hóa đơn GTGT do công ty TNHH X5 xuất để thực hiện việc kê khai, quyết toán thuế: quá trình điều tra xác định Đỗ Văn D là người đến các công ty trên để chào hàng cát xây dựng, D cung cấp thông tin với các công ty, doanh nghiệp là hàng hóa của D có nguồn gốc và có hóa đơn GTGT theo quy định, đồng thời D cung cấp cho các công ty, doanh nghiệp hồ sơ của công ty TNHH X5, vì tin tưởng hàng hóa của D có nguồn gốc nên các công ty, doanh nghiệp đã mua cát xây dựng của D, khi D cung cấp các hóa đơn GTGT do công ty TNHH X5 xuất thì bản thân các công ty, doanh nghiệp không biết đây là hóa đơn khống, không hợp pháp nên vẫn sử dụng các hóa đơn này để kê khai, quyết toán thuế. Sau khi nhận được thông báo về rủi ro thuế của Cục thuế tỉnh L thì 05 công ty, doanh nghiệp trên đã chủ động kê khai điều chỉnh, loại bỏ các số hóa đơn bất hợp pháp và nộp bổ sung tiền thuế GTGT. Do đó việc cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với 05 công ty, doanh nghiệp trên là có căn cứ và đúng quy định.

Đối với Nguyễn Thị M2 sinh năm 1988, cư trú tại số D T, phường L, Tp .: quá trình điều tra xác định M2 là chủ cửa hàng V ở hẻm F Đ, phường L, Tp ., M2 có mua cát của Đỗ Văn D sau đó M2 bán cát cho công ty TNHH K, do công ty TNHH K yêu cầu M2 phải xuất hóa đơn GTGT theo quy định nên M2 đã liên hệ với D và nhờ D xuất hóa đơn GTGT của công ty TNHH X5 cho công ty TNHH K. Tuy nhiên số lượng hóa đơn có ghi nội dung không đủ định lượng để xử lý hình sự nên việc cơ quan điều tra không xử lý đối với M2 là có căn cứ.

Đối với hành vi mua bán trái phép hóa đơn của công ty TNHH X5: quá trình điều tra chưa đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội nên việc Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý là có căn cứ và đúng quy định.

[10] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:

Cơ quan CSĐT – Công an T1 đã thu giữ 21 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) đã ghi nội dung của công ty TNHH X5 gồm 09 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH C, 02 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH X3, 05 hóa đơn GTGT xuất cho công ty cổ phần X1 Lâm Đồng, 02 hóa đơn GTGT xuất cho công ty cổ phần X1 Lâm Đồng – xí nghiệp X2, 03 hóa đơn GTGT xuất cho công ty TNHH K. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm lưu hồ sơ vụ án.

Buộc bị cáo Nguyễn Bá N phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 21.900.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Bá N tự nguyện nộp số tiền 21.900.000 đồng để khắc phục hậu quả. Tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[11] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử là có căn cứ chấp nhận.

[12] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Bá N1 và Đỗ Văn D phạm tội “Mua bán trái phép hoá đơn”.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 203; Điều 35 và điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá N, tên gọi khác là Quang 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 203; Điều 35 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Văn D 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Bá N phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 21.900.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 21.900.000 đồng do bị cáo Nguyễn Bá N tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả để bảo đảm thi hành án. Theo ủy nhiệm chi số 26 ngày 20/02/2025 giữa Cơ quan Công an thành phố T1 và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo LộB, tỉnh Lâm Đồng.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ...án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Bá N và Đỗ Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A.DS thành phố B;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG về mua bán trái phép hoá đơn (criminal case)

  • Số bản án: 56/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hoá đơn (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N CĐP mua bán hòa đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger