Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS-ST

Ngày: 10-11-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trịnh Thị Kim Cúc – nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu.
  2. Bà Trần Thị Thanh Tâm – nghề nghiệp: Giáo viên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Trần Khánh Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025; đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn Đ, sinh ngày 22-01-2009 tại Nam Định (nay là Ninh Bình); số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi đăng ký thường trú: Thôn V, phường N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số C Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S và bà Trần Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-8-2025 đến nay; có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Bà Trần Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số C Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Tố Q - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N; có mặt.

- Bị hại: Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1960; địa chỉ: Số A T, phường N, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

+ Bà Vũ Thị T, sinh năm 1976; không triệu tập.

+ Anh Trần Văn Đ1, sinh năm 2008; không triệu tập.

Người đại diện theo pháp luật của anh Đ1: Bà Trần Thị H2, sinh năm 1979; không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15-6-2025, Trần Văn Đ điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Vespa, màu tím than, biển kiểm soát 18MĐ2 - 096.48 của mẹ là bà Trần Thị H đi từ nhà đến khu vực cổng Nghĩa trang L khu vực phường T, tỉnh Ninh Bình. Đ dựng xe tại đây rồi đi bộ lang thang tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, Đ đến trước cửa nhà số A T, phường N, tỉnh Ninh Bình, thấy 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, màu sơn xanh xám, biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13 của bà Phạm Thị H1, sinh năm 1960 đang dựng trước cửa nhà, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa, đầu xe quay vào nhà, đuôi xe quay ra mặt ngõ, cửa mở nhưng trong nhà không có người. Đ quay ra khu vực đầu ngõ A T mặc ngược lại chiếc áo phông cộc tay sáng màu để tránh bị phát hiện rồi quay lại nhà bà H1, dùng tay phải vặn chìa khóa xe thì đèn bật sáng nhưng không khởi động được nên Đ dắt xe đi về hướng Ô 19 phường N được khoảng 50 mét thì khởi động được xe. Đ điều khiển đến sân Nhà văn hóa khu dân cư Đ3, phường T để cất giấu xe, sau đó đi bộ về cổng Nghĩa trang L phường T lấy chiếc xe máy điện biển kiểm soát 18MĐ2 - 096.48 đi về nhà. Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 16-6-2025, Đ đi bộ ra khu vực Nhà văn H3 để lấy chiếc xe máy điện biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13 mang về nhà sạc điện bằng dây sạc có sẵn của Đ. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe máy điện biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13 đến nhà bạn là anh Trần Văn Đ1, sinh năm 2008, trú tại thôn H, phường N, tỉnh Ninh Bình chơi. Anh Đ1 hỏi nguồn gốc chiếc xe thì Đ nói mượn của bạn. Sau đó, Đ dùng chiếc xe làm phương tiện đi hàng ngày.

Ngày 18-6-2025, bà Phạm Thị H1 đến Công an phường N, trình báo về việc ngày 15-6-2025 bị mất 01 xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, màu sơn xanh xám, biển kiểm soát 18MD1 - 229.13. Công an phường N đã triệu tập Trần Văn Đ lên làm việc. Đ đã tự nguyện giao nộp 01 xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, màu sơn xanh xám, biển kiểm soát 18MĐ1-229.13 Đ khai là trộm cắp của bà H1 ngày 15-6-2025.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 2 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của anh Trần Tiến Đ2, trú tại số A T, phường N (ký hiệu A1) và 01 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của anh Trần Ngọc P, trú tại số B T, phường N (ký hiệu A2) ghi lại hình ảnh Trần Văn Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để gửi đi giám định. Ngoài ra còn thu giữ trang phục của Trần Văn Đ mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp gồm: 01 chiếc quần đùi thể thao, màu xanh đậm, mặt trước bên phải có in chữ “egan”, mặt trước bên trái có in số “22” và 01 chiếc áo phông thể thao ngắn tay, sáng màu, hai vai, mặt sau áo in chữ: “bé Đ, 22, FC KTN".

Tại kết luận giám định số 113/KL-KTHS ngày 10-8-2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong toàn bộ mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2).

Tại kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 07-8-2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: Chiếc xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, màu sơn xanh xám, biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13, đã qua sử dụng có giá trị là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng).

Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy điện biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13 cho bà Phạm Thị H1, bà H1 nhận tài sản, không yêu cầu Đ phải bồi thường gì khác và có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Trần Văn Đ.

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSND-KV7 ngày 15-10-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình đã truy tố Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Văn Đ khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Ninh Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân Tối cao về Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần đùi thể thao, màu xanh đậm, mặt trước bên phải có in chữ “egan”, mặt trước bên trái có số “22”, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo phông thể thao ngắn tay, sáng màu, hai vai, tay áo màu xanh đậm có in họa tiết, mặt sau áo có in nội dung “bé Đ; 22; FC KTN”, đã qua sử dụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Không.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi năm 2025, Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội tuyên án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2025 tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo và người bị hại.

Bà Bùi Tố Q trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Đ. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt theo mức đề xuất thấp nhất của Viện kiểm sát là 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng.

Bà Trần Thị H là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đ trình bày: Bà là mẹ của bị cáo Đ, bà và bố bị cáo là ông Trần Văn S đã ly hôn vào năm 2022. Bị cáo Đ được Toà án giao cho bà nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật. Bà không biết việc bị cáo phạm tội, khi cơ quan Công an triệu tập đến làm việc, bị cáo khai ra bà mới biết việc bị cáo lấy trộm xe máy của bà H1. Bị cáo Đ đã rất ân hận về hành vi phạm tội của mình. Bà hoàn toàn đồng ý với lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý. Bà rất mong muốn Hội đồng xét xử cho bị cáo Đ được hưởng mức án thấp nhất, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, bà cam kết sẽ phối hợp với chính quyền địa phương cùng giáo dục, cải tạo bị cáo.

Bị cáo Trần Văn Đ nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Kết luận giám định số 113/KL-KTHS ngày 10-8-2025 của Phòng K Công an tỉnh N; Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 07-8-2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình; vật chứng của vụ án; lời khai của các bị cáo, bị hại, người làm chứng, tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 45 phút, ngày 15-6-2025, tại khu vực trước cửa nhà bà Phạm Thị H1, địa chỉ số A T, phường N, tỉnh Ninh Bình, Trần Văn Đ có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, màu sơn xanh xám, biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13 trị giá 8.500.000 đồng của bà Phạm Thị H1. Khi phạm tội, bị cáo Đ 16 tuổi 04 tháng 24 ngày, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Ninh Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Vì vậy cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình và việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, xử lý về hình sự đối với bị cáo là cần thiết nhằm góp phần trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đ 16 tuổi 04 tháng 24 ngày, do đó Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 90, 91 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 119, Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên để xử lý và quyết định hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

- Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn Đ có nhân thân tốt, trước lần phạm tội này bị cáo chưa có vi phạm pháp luật gì, lần phạm tội này của bị cáo là lần đầu.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn Đ tự nguyện giao nộp lại chiếc xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13 để Cơ quan điều tra trả lại cho người bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Đường lối xử lý về hành vi phạm tội của bị cáo:

- Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như động cơ mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo được; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Đ 16 tuổi 04 tháng 24 ngày. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhưng áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp với quy định của pháp luật và cũng để thể hiện sự nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy điện biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Phạm Thị H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với 01 chiếc quần đùi thể thao, màu xanh đậm, mặt trước bên phải có in chữ “egan”, mặt trước bên trái có in số “22”; 01 chiếc áo phông thể thao ngắn tay, sáng màu, hai vai, mặt sau áo in chữ: “bé Đ, 22, FC KTN”: Xác định không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

[6] Về các vấn đề khác trong vụ án:

- Đối với anh Trần Văn Đ1 và bà Trần Thị H không biết chiếc xe máy điện biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13 do Đ trộm cắp mà có nên xác định không giúp sức, che giấu cho hành vi phạm tội của Trần Văn Đ nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn Đ bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 90; Điều 91 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Trần Văn Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc quần đùi thể thao, màu xanh đậm, mặt trước bên phải có in chữ “egan”, mặt trước bên trái có in số “22”, đã qua sử dụng; 01 chiếc áo phông thể thao ngắn tay, sáng màu, hai vai, mặt sau áo in chữ: “bé Đ, 22, FC KTN" đã qua sử dụng.

(Vật chứng có đặc điểm, chủng loại theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 726/15 ngày 21-10-2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, Ninh Bình).

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn Đ, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hai được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện của bị cáo;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND Khu vực 7;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - THADS Ninh Bình;
  • - Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hải Ninh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

 

Trần Thị Hải Ninh

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-ST ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 56/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 22 giờ 45 phút, ngày 15-6-2025, tại khu vực trước cửa nhà bà Phạm Thị Hồng, địa chỉ số 13/163 Trần Thánh Tông, phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình, Trần Văn Đức có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, màu sơn xanh xám, biển kiểm soát 18MĐ1 - 229.13 trị giá 8.500.000 đồng của bà Phạm Thị Hồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger