Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS-PT

Ngày 27- 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và ông Nguyễn Xuân Trọng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Văn L, Đỗ Đức N do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L và Đỗ Đức N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Văn L, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2001; sinh trú quán: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M, sinh năm 1978 và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, (Có mặt).
  2. Đỗ Đức N, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2005; sinh trú quán: Tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Mạnh C, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1985; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Đức N là ông Nguyễn Văn A, luật sư Công ty L2 trách nhiệm hữu hạn thuộc đoàn luật sư thành phố H, (Có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 13/6/2024, anh Đỗ Văn T3 tổ chức sinh nhật, liên hoan ăn uống tại nhà hàng Đ thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Y. Tại buổi liên hoan có sự tham gia của 02 anh em ruột là Phạm Đức Lan T4 và Phạm Văn L; 03 anh em ruột là Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Hoàng N1, Dương Thị H, Nguyễn Thị L1 và 01 số người khác. Cả nhóm ăn uống đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày thì đi đến quán Karaoke “Thiên Đường” thuộc tổ dân phố L, thị trấn T do anh Nông Văn T5 đang làm quản lý để hát. Nhóm T3 được anh T5 dẫn vào phòng số 1 gần cổng ra vào của quán để hát. Quá trình hát tại quán, T4 đến nói chuyện với H và dùng tay trái phát vào mông của H 1 cái thì T1 nhìn thấy. Do H là bạn của T1 nên T1 bức xúc đến chửi bới, thách thức đánh nhau với T4. Thấy vậy T3, H và L cùng đến can ngăn. Lúc này, T1 lại chỉ vào mặt T4 và L và nói “Chúng mày muốn thế nào”, L bảo “anh muốn giải quyết thế nào thì anh đi ra ngoài”. Thấy trong nhóm của T3 xảy ra cãi, chửi nhau ầm ĩ, anh T5 lo sợ sẽ xảy ra đánh nhau trong quán dẫn đến hư hỏng tài sản của quán nên đã yêu cầu nhóm T3 đi ra khỏi quán.

Khoảng 22 giờ 51 phút ngày 13/6/2024, nhóm T3 đi ra ngoài cửa quán K thì T1 và T2 lớn tiếng chửi bới, đe dọa đánh T4 và L nhưng được B, T3, N1, H, L1 cùng 1 số người khác can ngăn. Lúc này, T2 nhặt 02 viên gạch trên trồng gạch ở vỉa hè trước cửa quán đập vào nhau tạo thành các mảnh vỡ rồi ném 01 viên về phía T4 nhưng T4 né được, T2 định ném nốt viên còn lại vào người T4 thì B can ngăn nên T2 không ném nữa. Sau đó, L bảo với nhóm T1 là “bây giờ các anh muốn giải quyết thế nào” thì T1 quay lại nhặt 02 viên gạch dưới chân cột điện và chỉ thẳng vào mặt L nói “mày thích thế nào cũng được”, T4 can ngăn L thì L ngồi lên xe máy nhãn hiệu Suzuki Raider màu trắng – đen, BKS: 88F1 – 43666 mượn của anh Phạm Thanh T6 nổ máy đi về hướng thị trấn Y rồi dừng xe ở cách quán K khoảng 500m và gọi điện thoại cho em họ L là Đỗ Hoàng P kể về việc bị T1, T2 chửi bới, đánh ở quán K. Do P đang ở xa không về ngay được nên P đã gọi điện cho em trai ruột mình là Đỗ Đức N bảo N đi xe máy Honda Airblade BKS: 88F1 - 609.96 của mẹ N đi đến cổng làng L ở tổ dân phố L, thị trấn T xem L bị đánh như nào để can ngăn hoà giải, và dặn N không được đánh nhau thì N đồng ý và làm theo.

Sau khi gọi điện cho P, L lái xe quay lại đỗ ở giữa lòng đường tỉnh lộ 305 đến trước cửa quán K ngồi trên xe, chỉ tay vào mặt T1 chửi bới, thách thức T1. T1 dồn đuổi L và hô hào to tiếng, sau đó lao đến dùng tay đấm vào vùng đầu, mặt của L thì L nhảy xuống xe né tránh được. Lúc này, T1 liên tục chửi bới và lao lại phía L để đánh nhau nhưng được T4 can ngăn, kéo lại. Tĩnh nhặt gạch ở vỉa hè ném L nhưng không trúng, thấy vậy B chạy vào can ngăn Tĩnh. Sau đó, T1 và T2 tiếp tục vừa chửi bới, thách thức với L thì được T3, T4, N1, B, H can ngăn. L đi sang bên kia đường và chửi bới, thách thức lại thì T1 chạy lên vỉa hè trước cửa quán K nhặt 02 tấm ván gỗ ép ở vỉa hè chạy về phía L nhưng bị T4, T3, N1 ngăn cản nên đã dùng ván gỗ đập từ trên xuống trúng vào lưng của T4 rồi cầm gạch ở dưới đường đập trúng vào vùng lưng, bả vai của T4, dùng tay đấm trúng mặt T3, dùng tay đấm N1 nhưng không trúng. Thấy T4 bị đánh, L chạy lại chửi bới, thách thức T1 nhưng được T4 can ngăn thì L bỏ đi sang bên kia đường đối diện quán K. T1 nhặt 02 nửa viên gạch chạy về phía L ném vào người L rồi dùng tay đấm trúng vào mặt L, dồn đuổi L về hướng thị trấn Y khoảng 10m thì đuổi kịp L, L dùng tay đấm lại T1 nhưng không trúng, T1 dùng tay vít cổ, vật L ngã xuống mặt đường, T2 cầm gạch lao lại rồi cùng T1 đấm đá L, L nằm nghiêng sang bên phải, đầu hướng về Y, chân hướng về thị trấn Y, chân co lên bụng, 2 tay ôm đầu, T2 cầm 01 viên gạch đập từ trên xuống trúng vào phần tay của L, T1 thì dùng chân đá liên tiếp vào người của L. T4, B, N1, T3 và H chạy lại can ngăn, kéo T1 và T2 đang đánh L ra. L tiếp tục đi lại giữa đường tỉnh lộ 305 to tiếng chửi bới, thách thức với T1 và T2. Đến 22 giờ 59 phút cùng ngày, N cởi trần đi xe máy đến thấy L đang cãi chửi, thách thức nhau với T1 và T2 nên N đã lấy 01 chiếc gậy 3 khúc bằng kim loại ở trong cốp xe máy ra rồi đến vị trí của T1 và T2 đứng rồi lớn tiếng nói “địt mẹ, thằng nào đánh anh tao”. L bảo N đưa gậy 3 khúc cho L thì N đi ra chỗ L đứng và đưa chiếc gậy 3 khúc trên tay cho L cầm. Tại đây L và anh em T1, T2 tiếp tục to tiếng cãi, chửi, thách thức với nhau. Cụ thể: L cầm gậy 3 khúc, T1 và T2 cầm gạch vừa đi bộ, vừa chửi, thách thức nhau ở giữa đường TL305, còn T4, T3, B, N1 và H thì can ngăn. Thấy L cầm gậy sắt chửi bới, thách thức đánh nhau với T1, T2 nên H quỳ xuống ôm tay L xin đừng đánh nhau nữa nhưng L vẫn chửi bới, do hoảng sợ nên H bị ngất thì được T3 gọi taxi đưa H vào Trung tâm y tế huyện Y. L và 2 anh em T1, T2 cãi chửi, thách thức nhau đến 23 giờ 04 phút cùng ngày thì L, T4 đi bộ về nhà còn T1 và T2 thì quay lại vị trí trước cửa quán K, thấy xe máy của L để lại, T1 và T2 cầm gạch đập phá, đạp đổ xe máy của L.

Sự việc diễn ra từ khi nhóm T3 đi ra khỏi quán karaoke cho đến lúc T1, T2 đập phá chiếc xe máy của L xong là từ 22 giờ 51 phút đến 23 giờ 08 phút tức là 19 phút, vị trí các đối tượng đánh nhau ở khu vực dân cư đông người, gây cản trở giao thông, trên đường T dẫn đến nhiều phương tiện giao thông đi qua phải bấm còi (mặc dù đã quá 22 giờ) và đi tránh xa nhóm L, T1, T2 đang đánh nhau; đi sang làn đường ngược chiều, gây cản trở giao thông.

Kết quả khám nghiệm phương tiện, hiện trường phù hợp với diễn biến vụ án gây rối trật tự công cộng.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki được dán tem mác SATRIA F150, màu sơn: Trắng- đen, được gắn biển kiểm soát 88F1-436.66, xe không có gương chiếu hậu ở hai bên, số khung: RLSDL11ANJV114483, số máy: CGA1 – 514198 đã qua sử dụng; mảnh vỡ gạch và bê tông xi măng, 03 chiếc dép, mảnh vỡ gỗ công nghiệp, 01 chiếc kính.

Ngày 21/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y thu giữ được 02 đoạn video ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc xảy ra trích xuất từ camera an ninh tại cửa hàng xe điện của anh Nguyễn Văn T7 và từ camera an ninh tại nhà anh Nguyễn Văn T8.

Ngày 26/6/2024, Phạm Văn L đã giao nộp 01 gậy 3 khúc bằng kim loại có chiều dài dài nhất khi rút ra là 75cm, chiều dài ngắn nhất khi thu vào là 29cm; 1 đầu tròn, 1 đầu nhọn, phần tay cầm được bọc 01 lớp cao su màu đen là đồ vật L sử dụng kể trên.

Ngày 12/7/2024, Đỗ Đức N giao nộp cho cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím đã cũ có số máy: MQ9T3VN/A bên trong lắp 01 thẻ sim Vinaphone in dòng số màu đen là 898402000 11474165196, in dòng số màu xanh là 2023 của N sử dụng để liên lạc, trao đổi với P liên quan đến vụ việc trên.

Ngày 18/10/2024, Phạm Văn L giao nộp cho cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen đã cũ có số máy MNQM2VN/A, bên trong lắp 01 thẻ sim 4g V1 in dòng số 8984 0480 0033 1015 107 của L sử dụng để gọi điện P nói về việc L bị T1, T2 đánh.

Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS đề ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận tổng giá trị thiệt hại của xe máy kể trên là 1.800.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số: 255/TgT ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V đối với thương tích của anh Phạm Văn L. Kết luận:

  • Vết sây sát da mặt ngoài gối phải bề mặt đã đóng vảy tiết kích thước trung bình xếp: 02%.
  • Hiện tại: Đương sự đang điều trị thương tích đã mô tả trên, khi nào điều trị ổn định giám định bổ sung.
  • - Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày gây nên.
  • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Pháp y Tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn L tại thời điểm giám định là: 02%.

Tại Bản kết luận giám định số: 256/TgT ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V đối với thương tích của anh Phạm Đức Lan T4. Kết luận:

  • Vết biến đổi rối loạn sắc tố da mặt ngoài khuỷu tay trái xếp: 01%
  • - Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày gây nên.
  • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Pháp y Tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Đức Lan T4 tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định số: 280/TgT ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V đối với thương tích của anh Đỗ Văn T3. Kết luận: Hiện tại kiểm tra trên cơ thể không có dấu vết thương tích gì, xếp: 00%

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Pháp y Tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn T3 tại thời điểm giám định là: 00%.

Tại Bản kết luận giám định số: 355/KLTTCT-PYVP ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh V đối với thương tích của anh Phạm Văn L. Kết luận:

  • - Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài gối phải kích thước trung bình xếp:02%.
  • - Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày gây nên.
  • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong Giám định Pháp y, Pháp y Tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn L tại thời điểm giám định là: 02%.

Ngày 08/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 991, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 02 đoạn video ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc xảy ra trích xuất từ camera an ninh tại cửa hàng xe điện của anh Nguyễn Văn T7, sinh năm 1989 tổ dân phố L, thị trấn T và từ camera an ninh tại nhà anh Nguyễn Văn T8, sinh năm 1979 tổ dân phố L, thị trấn T với yêu cầu giám định: Trích xuất 02 đoạn video ra đĩa DVD và sao chụp, mô tả hình ảnh đối tượng xuất hiện trong video. Ngày 26/8/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 2461/KL-KTHS, kết luận:

  • - Trích xuất được 24 ảnh từ 02 tệp video gửi giám định; toàn bộ ảnh và thuyết minh được thể hiện trong Phụ lục giám định.
  • - Sao lưu được 02 tệp video gửi giám định vào đĩa DVD.

Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) đĩa DVD và 01 Phụ lục giám định. Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định và kết luận định giá nêu trên cho những người liên quan. Sau khi được thông báo thì tất cả những người nêu trên đều đồng ý với nội dung bản kết luận, không ai có ý kiến thắc mắc gì.

Nguyễn Văn T1 có hành vi sử dụng tay đánh anh Nguyễn Văn T9 không gây thương tích; sử dụng ván gỗ ép đánh anh Phạm Đức Lan T4 gây thương tích 01%. Đồng thời T1 cùng Nguyễn Văn T2 sử dụng chân, tay, gạch đá đánh Phạm Văn L gây thương tích 02% đủ yếu tố cấu thành tội phạm Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên T9, T4 và L có đơn không yêu cầu khởi tố đối với T1, T2 về việc bị T1, T2 gây thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý T1, T2 về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 24/10/2024, Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 và T2 về hành vi "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự" quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Thủ tướng chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, mức xử phạt đối với T1 là 6.500.000 đồng và mức xử phạt đối với T2 là 5.500.000 đồng. Ngày 04/11/2024, T1 và T2 đã chấp hành nộp phạt xong.

Trong quá trình đánh nhau, T1 và T2 có hành vi dùng gậy vụt, đạp đổ xe mô tô Suzuki Raider màu trắng – đen, BKS: 88F1 – 43666 gây ra thiệt hại tổng số tiền là 1.800.000 đồng, bản thân T1 và T2 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi trên và hành vi trên cùng năm trong chuỗi hành vi dẫn đến việc cấu thành tội gây rối trật tự công cộng, do đó không xử lý T1 và T2 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản.

Đối với Đỗ Hoàng P là người được Phạm Văn L gọi điện thoại để nói về sự việc trên, đồng thời L nhờ P đến để giúp nếu có vấn đề xảy ra thì can ngăn. Tuy nhiên do P bận không đến được nên có gọi cho em trai là Đỗ Đức N đến xem có chuyện gì xảy ra để can ngăn và dặn N không được đánh nhau. Do đó hành vi của P không đồng phạm trong vụ việc trên nên không đề cập xử lý.

Đối với T4, B, N1, H, L1 là những người có mặt tại nơi xảy ra vụ việc can ngăn các đối tượng đánh nhau, không tham gia vụ việc trên nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki được dán tem mác SATRIA F150, BKS: 88F1-436.66, xe không có gương chiếu hậu ở hai bên, số khung: RLSDL11ANJV114483, số máy: CGA1 – 514198. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này là tài sản hợp pháp của anh Phạm Thanh T6, ngày 13/6/2024, anh T6 cho L mượn xe để đi chơi, về việc L điều khiển xe đi hát rồi xảy ra hành vi đánh nhau với T1 và T2 thì anh T6 không biết. Ngày 25/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y trả lại chiếc xe trên cho anh T6. Nhận lại tài sản, anh T6 không có ý kiến, yêu cầu, đề nghị gì.

Vật chứng vụ án gồm: Các mảnh vỡ gạch và bê tông xi măng, mảnh vỡ gỗ công nghiệp thu giữ tại hiện trường; 01 chiếc dép màu đen, 01 chiếc kính của chị Dương Thị H; 02 chiếc dép màu đen của bị cáo L; 01 chiếc gậy 3 khúc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus của L; 01 chiếc gậy 3 khúc bằng kim loại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của N.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn T2 đã bồi thường cho Phạm Văn L số tiền 15.000.000 đồng là chi phí khám, thuốc men, điều trị thương tích và bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho anh Phạm Thanh T6 tiền sửa chữa xe mô tô Suzuki Raider. L và anh T6 không có yêu cầu đề nghị gì.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2025/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn L, Đỗ Đức N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Đức N 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2; xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25 và ngày 28 tháng 02 năm 2025, bị cáo Phạm Văn L và Đỗ Đức N kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phạm Văn L, Đỗ Đức N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức N, sửa bản án sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án; xử phạt bị cáo Đỗ Đức N 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Đức N phát biểu: Nhất trí với tội danh, điều khoản đối với bị cáo Đỗ Đức N, tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo và tích cực ủng hộ thiện nguyện trong xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L và Đỗ Đức N làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 22 giờ 51 phút ngày 13/6/2024, tại quán K” thuộc tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Y xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau trong khi hát giữa nhóm của Nguyễn Văn T1 và nhóm của anh Phạm Đức Lan T4. Do lo sợ xảy ra đánh nhau, Nông Văn T5 là quản lý quán hát đã mời 02 nhóm trên ra ngoài cửa và đóng quán hát. Tại đây, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn T2 lớn tiếng chửi bới, đe doạ anh T4 và Phạm Văn L, đồng thời Tĩnh ném 01 viên gạch về phía anh T4 nhưng không trúng. Thấy vậy, L gọi điện cho em họ là Đỗ Hoàng P kể về sự việc trên, nhưng do ở xa nên P không về được nên P gọi cho em trai là Đỗ Đức N ra xem sự việc như nào để hoà giải, can ngăn. Sau đó L và T1, T2 tiếp tục chửi bới, đánh nhau gây náo loạn đường phố, làm cản trở việc di chuyển của nhiều phương tiện giao thông đi qua khu vực này, khiến các phương tiện phải ra hiệu bấm còi inh ỏi giữa đêm. Trong quá trình đánh nhau, T4, T9 vào can ngăn thì T4 bị T1 dùng 02 tấm ván gỗ ép đập từ trên xuống dưới trúng vào vùng lưng, bả vai, T9 bị T1 dùng tay đấm trúng vào vùng mặt. Thấy T4 bị đánh L lao vào tiếp tục đánh nhau với T1 và T2. Đến khoảng 22 giờ 59 phút, N đến không can ngăn mà đưa gậy cho L, mục đích để L tiếp tục đánh nhau với nhóm của T1. Do hoảng sợ nên Dương Thị H bị ngất nên 02 T1, T2, L, N không đánh nhau nữa và cùng nhau ra về. Trên đường quay trở về quan Karaoke nêu trên thì T1, T2 cầm gạch đập, đạp đổ xe máy L. Hậu quả: Anh T4 bị thương tích 01%, anh L bị thương tích 02%, 01 xe máy bị hư hỏng.

Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật, xét xử các bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2, Phạm Văn L, Đỗ Đức N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo L tham gia vụ án với vai trò là đồng phạm tích cực thực hiện tội phạm, bị cáo là người trực tiếp tham gia chửi, đánh nhau gây mất trật tự công cộng, quá trình xảy ra mâu thuẫn. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của bị cáo, từ đó xử phạt bị cáo Phạm Văn L 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật nên kháng cáo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của Đỗ Đức N xét thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo nộp thêm tài liệu chứng cứ mới là Giấy chứng nhận tấm lòng vàng của Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện B, tỉnh Cao Bằng thể hiện bị cáo đã tham gia thiện nguyện hỗ trợ bà con nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng sau cơn bão số 3, đây là tài liệu chứng cứ mới của vụ án nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét về vai trò tham gia tội phạm, bị cáo tham gia với vai trò thứ yếu, không đáng kể, bị cáo đến sau và không có hành vi xúi giục, chửi bới mà chỉ đưa gậy cho L, ngoài ra bị cáo không có hành vi gì khác. Nhận thấy, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo N tuổi đời còn trẻ (hơn 18 tuổi), bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo đã nhận thức được sai lầm của mình nên áp dụng chính sách khoan hồng của Nhà nước, không cần bắt bị cáo đi chấp hành án tại trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đỗ Đức N được hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo N được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo L không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn L, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đức N. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đối với hình phạt của bị cáo Đỗ Đức N.

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn L, Đỗ Đức N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản Điều 51; khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Đức N 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Đỗ Đức N cho UBND xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Đỗ Đức N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Phạm Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan THAHS công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc;
  • - UBND xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng, Tòa Hình sự.

THẨM PHÁN

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-PT ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự

  • Số bản án: 56/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn L, Đỗ Đức N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger