|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2025/HS-PT Ngày 11-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Hưng.
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Thanh Giang và bà Phạm Thị Mai Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thơi - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2025. Do có kháng cáo của các bị cáo Trần Văn M, Bùi Hữu N, Phạm Văn K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Các bị cáo kháng cáo:
- Bùi Hữu N, sinh ngày 13/9/2007 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; sinh ngày 13/9/2007 tại huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn V, xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Duy C và bà Mai Thị M1; tiền án, tiền sự: Không; (CCCD số: [...]). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Trần Văn M, sinh ngày 07/7/2006 tại huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K1 và bà Chu Thi L; tiền án: Không. (CCCD số: [...]); Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 107/QD-XPHC ngày 18/11/2023, Công an huyện N, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Văn M 3.250.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, thi hành xong ngày 29/12/2023, chưa được xoá; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt.
- Phạm Văn K, sinh ngày 06/12/2007 tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện tại: 33/215 Nguyễn Lương B, khu H, phường T, thành, phố H, tỉnh H7; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa, (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không. (CCCD số: [...]). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Ngoài ra còn 13 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Hữu N: Bà Mai Thị M1, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương (có mặt),
- Người đại diện cho bị cáo Phạm Văn K: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: 3 N, khu H, phường T, thành phố H (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Hữu N: Ông Nguyễn Ngọc T1- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T11, Sở tư pháp tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn K: Bà Nguyễn Thị L1- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T11, Sở tư pháp tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Đại diện đoàn thanh niên nơi các bị cáo Bùi Hữu N, Phạm Văn K sinh hoạt: Đại diện Đoàn thanh niên xã M- xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; Phường T, thành phố H (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Bùi Viết H, sinh ngày 27/7/2009; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương. Người đại diện hợp pháp của cháu Bùi Viết H: Ông Bùi Viết D1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
- Cháu Nguyễn Hữu H1, sinh ngày 08/5/2009; địa chỉ: Số B L, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hữu H1: Ông Nguyễn Hữu C1, sinh năm 1986; địa chỉ: Số B L, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.(vắng mặt)
- Cháu Đỗ Đình T2, sinh ngày 01/11/2009; địa chỉ: Đ, khu Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Người đại diện hợp pháp của cháu Đỗ Đình T2: Bà Lưu Thị N1, sinh năm 1989; địa chỉ: Đ, khu Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt)
- Cháu Nguyễn Hải T3, sinh ngày 06/10/2008; địa chỉ: Số A N, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hải T3: Ông Nguyễn Văn D2, sinh năm 1982; địa chỉ: số A N, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
- Cháu Nguyễn Đức T4, sinh ngày 19/6/2008; địa chỉ: Số E V, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Đức T4: Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1976; địa chỉ: Số E V, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.(vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Trần Văn P, anh Bùi Thái S, cháu Vương Quốc A, cháu Nguyễn Mạnh D3, cháu Ngô Việt A1, cháu Vũ Trung K2, cháu Phùng Minh Q, anh Đỗ Mạnh N2, cháu Nguyễn Tuấn K3, anh Vũ Đức C2, anh Nguyễn Trác S1 và cháu Đỗ Đình H2 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/4/2024, Nguyễn Công D4 điều khiển xe mô tô đến quán N4 ở thị trấn T, huyện T, sau đó có Nguyễn Văn T6, Phạm Văn H3, rồi Phạm Trung K4, Trần Huy T7 và Bùi Viết H (sinh ngày 27/7/2009, chưa đủ 16 tuổi) lần lượt đến. Khi ngồi uống nước, H kể việc hôm trước H đi lên thành phố H bị đáp đất, đáp vỏ chai bia và H rủ mọi người đi lên thành phố H tìm nhóm đã đáp H để đánh thì D4 và K4 đồng ý, T6 và H3 chỉ nghe được H nói rủ đi lên thành phố H, còn T7 không để ý nên không nghe thấy lời H. Sau đó, trên đường đi còn tụ tập thêm một số đối tượng khác. Khi lên thành phố H, các bị cáo mang theo dao, kiếm và vỏ chai bia.
Cả nhóm Tứ Kỳ lúc này có 05 xe mô tô và 10 người gồm: Nguyễn Công D4 điều khiển xe mô tô Airblade màu đỏ biển kiểm soát 34S1-287.45 chở Bùi Viết H (sinh ngày 27/7/2009, chưa đủ 16 tuổi); Đồng Quang V điều khiển xe Wave alpha màu đen biển kiểm soát 34S1-002.87 chở Nguyễn Văn T6; Trần Huy T7 (chưa đủ 18 tuổi) điều khiển xe mô tô Airblade màu đỏ xám biển kiểm soát 34S1-014.28 của K4 chở Phạm Trung K4; Trần Văn M (chưa đủ 18 tuổi) điều khiển xe mô tô Airblade màu xanh không gắn biển chở Phạm Văn H3; Nguyễn Văn N3 điều khiển xe Vision chở Bùi Hữu N di chuyển đến ngã tư H thì K4 nói với cả nhóm: “Cứ đi bình thường, ai đánh mình thì mình đánh lại”, cả nhóm di chuyển đến phố đi bộ, qua Cầu C về ngã tư M rẽ vào đường N hướng về tòa nhà 25 tầng. Sau đó cả nhóm còn điều khiển xe đi “lượn đường” đến nhiều địa điểm khác tại thành phố H. Khi di chuyển đến đường T thì gặp một nhóm nam thanh niên chưa rõ danh tính đi trên các xe mô tô di chuyển ngược chiều. Thấy nhóm thanh niên này vòng sang đường, nghĩ nhóm này vòng sang đường để đuổi đánh thì nhóm Tứ K5 bỏ chạy theo nhiều hướng khác nhau. Quá trình bỏ chạy, những người trong nhóm Tứ K5 vứt bỏ chai bia cầm theo vào ven đường, chỉ có Nhân, H vẫn cầm. Khi bỏ chạy, xe V chở T6 bị thủng săm nên đã vào quán nước của gia đình chị Nguyễn Thị T8 gửi. Lúc này, M chở H3 và T6, T7 chở K4 và V, hai xe di chuyển về đến khu vực xã N thì gặp xe Nhanh chở N, xe D4 chở H. Biết xe V bị thủng săm nên D4 bảo cả nhóm quay lại H4 T9 để lấy xe của V và để D4 gặp bạn thì tất cả đồng ý quay lại đi về hướng H.
Trên đường đi thấy nhà dân ven đường có để két vỏ chai bia, D4 dừng xe để H xuống và D4 nói với H3: “Xuống lấy cùng H đi”. H và H3 xuống xe lấy và bê theo mỗi người 01 vỏ két bia, bên trong đều đựng các vo chai bia thủy tinh. Cả nhóm sau đó di chuyển đến khu vực ngã tư H thì gặp các xe nhóm thành phố H và đi qua ngã tư đèn xanh, đèn đỏ đến khu vực cây xăng đầu đường L cạnh ngã tư thì dừng lại. H và H3 đặt két vỏ chai bia xuống để người trong nhóm lấy vỏ chai bia: H3 lấy 05 vỏ chai bia, T6 cầm dao quắm và lấy 01 vỏ chai bia, V lấy 01 vỏ chai bia, K4 lấy 01 vỏ chai bia, H vẫn cầm kiếm cùng 04 vỏ chai bia ban đầu và lấy thêm 02 vỏ chai bia nữa, N vẫn cầm gậy kim loại và 06 vỏ chai bia ban đầu, không lấy thêm vỏ chai bia nào nữa. Trong hai két vẫn còn vỏ chai bia thì Hoàng bê vất gọn vào gốc cây lề đường. Cả nhóm đi lượn qua một số tuyến đường rồi quay về đường T hướng về Cầu C thì gặp nhóm H8 đang di chuyển ngược chiều từ khu vực Cầu C về hướng đường T.
Nhóm Hải Dương lúc này gồm có 08 xe 13 người: An Văn V1 (chưa đủ 18 tuổi) điều khiển xe loại Vario màu trắng biển kiểm soát 34S1-163.85 chở Phạm Văn K (chưa đủ 18 tuổi); Đỗ Đình T2 (chưa đủ 16 tuổi) điều khiển xe mô tô Wave màu xanh đen không đeo biển kiểm soát chở Nguyễn Hữu H1 (chưa đủ 16 tuổi); Nguyễn Hải T3 (chưa đủ 16 tuổi) điều khiển xe mô tô SH màu đen không đeo biển kiểm soát chở Nguyễn Văn K6 (chưa đủ 18 tuổi); Nguyễn Văn K7 điều khiển xe Airblade màu xanh rêu biển kiểm soát 34K1-039.83 đi một mình; Nguyễn Việt H5 (chưa đủ 18 tuổi) điều khiển xe mô tô Vision màu xám không đeo biển kiểm soát chở Nguyễn Đức T4 (chưa đủ 16 tuổi); Phạm Văn H6 (chưa đủ 18 tuổi) điều khiển xe mô tô Airblade màu bạc xanh chở Nguyễn Đình T10 (chưa đủ 18 tuổi); Trần Văn P điều khiển xe SH màu đỏ đen biển kiểm soát 34B2-138.79 đi một mình; Bùi Thái S (chua đủ 18 tuổi) điều khiển xe mô tô SH mode màu trắng không đeo biển kiểm soát đi một mình.
Hai nhóm Tứ kỳ và Hải D5 khi nhìn thấy nhau, đã ném vỏ chai bia về phía nhau: T4 cầm 01 vỏ chai bia ném về phía nhóm T; N cầm 01 vỏ chai bia, H3 cầm 01 vỏ chai bia, M lấy 01 vô chai bia của H3 ném về phía nhóm thành phố H. V1 và K7 hô: “Đuổi theo” thì hầu hết các xe trong nhóm thành phố H vòng sang đường đuổi theo nhóm T.
Nhóm Tứ K5 bỏ chạy rẽ vào đường bên phải về hướng cầu P, nhóm thành phố H đuổi theo phía sau. Quá trình chạy trên đường đến vị trí đèn xanh, đèn đỏ cầu P: Tuyến, N, H, D4 ném các vỏ chai bia đã chuẩn bị trước về phía các xe đang đuổi theo; Nhóm H đuổi theo sau, quá trình đuổi trên đường: K, T4, T10 cầm vỏ chai bia ném về phía nhóm Tứ K5;
Đến ngã tư H, nhóm T rẽ đi theo đường tỉnh 391 hướng về T, T6 cầm vỏ chai bia còn lại ném về phía nhóm thành phố H. Lúc này, nhóm Hải Dương có Văn Kiên ném nhiều vỏ chai bia về phía nhóm T. Đuổi nhau về đến địa phận xã N, nhóm T có H3, V ném vỏ chai bia nhiều lần về phía nhóm thành phố H; M hò hét: “Chúng mày lên hết đây”, Vũ chửi: “Đ mẹ chúng mày”. Trong nhóm thành phố H, Văn K6 chứi: “Đ mẹ chúng mày đứng lại”, Hữu H1 cầm vỏ chai bia ném. Ba xe trong nhóm Tứ K5 chạy đến địa phận xã H, T thì D4 lấy vỏ chai bia còn lại của H ném về phía các xe nhóm thành phố H, còn Trung K4, V dùng kiếm và dao giơ lên gõ vào nhau để dọa nhóm Hải Dương. Văn Kiên trong nhóm thành phố H cũng lấy con dao trong cốp xe T3 cầm trên tay dọa nhóm Tứ K5. Khi đó T10 nhớ ra trong cốp xe Airblade Huy đang điều khiển cũng có 01 con dao mèo, lưỡi dao bị han dài khoàng 35 cm, tay cầm bằng gỗ dài khoảng 15 cm do ngày 29/4/2024 T10 mượn xe Đ đi chơi và có để 01 con dao mèo vào cốp. T10 bảo H1 dừng xe mở cốp để T10 cầm dao mèo trên tay dọa và lấy vỏ chai bia trong két ném về phía nhóm T.
Cả hai nhóm vừa đuổi nhau vừa tiếp tục ném vỏ chai bia, gõ dao, kiếm để doạ nhau, đuổi qua cầu vượt qua đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đuổi đến cây xăng V2 thì các xe trong nhóm thành phố H không đuổi nữa mà quay lại đi về hướng thị trấn T, chỉ có xe T2 chở Hữu H1 đi vào cửa hàng xăng dầu đổ xăng.
Thấy nhóm thành phố H quay lại thì xe D4 chở H và xe T7 chở K4 (nhóm TK) cũng quay lại. Nhìn thấy xe T2 và Hữu H1 (nhóm HD) bên trong cây xăng thì H và D4 gọi T2 và Hữu H1 ra, D4 nói: “Mày đi ra đây tao sút ba phát vào mặt tao tha cho”. T2 điều khiển xe chở Hữu H1 đi ra gần đến vị trí xe D4 và H thì D4 cầm 01 vỏ chai bia đáp vào vai T2 nhưng không gây thương tích. Lúc này, H cầm dao chém 01 nhát vào lưng Hữu H1 làm xước da và 01 nhát trúng vào mặt sau dưới cánh tay phải của Hữu H1. Sau khi chém, H nói với D4: “Anh ơi, em chém chảy máu nó rồi, chạy thôi anh” thì D4 chở H đi về hướng thị trấn T. Đi được một đoạn thì đuổi kịp xe T7 chở Trung K4 và V đi phía trước, H nói với T7, K4, V: “Em chém nó rồi”. Sau đó, hai xe đi về đường vành đai thị trấn T đứng, V để thanh kiếm vào két vỏ chai bia mà K4 vừa cầm. H đưa con dao cho K4, K4 cầm dao cho vào cốp xe của mình.
Các xe trong nhóm thành phố H quay lại đi đến vòng xuyến ngã ba thị trấn T thì lại gặp nhóm Tứ K5: M chở H3 và T6, xe N3 chở N. Hai bên tiếp tục chửi và ném vỏ chai bia về phía nhau. Sau đó, xe M và xe N3 vòng xe quay lại đuổi theo các xe trong nhóm thành phố H. Các xe trong nhóm thành phố H chạy qua vị trí đèn xanh, đèn đỏ khu vực tòa nhà C khu A, thị trấn T, huyện T khoảng hơn 100 mét thì gặp xe V1 chở K (nhóm HD) di chuyển ngược chiều. Thấy các xe nhóm mình đi về hướng thành phố H thì V1 vòng xe sang đường để đi cùng. Khi vừa vòng sang đường thì xe Mạnh chở H3 và T6 (nhóm T12) vừa đuổi đến. Khi vượt qua vị trí xe V1 khoảng 05 mét. V1 điều khiển xe từ phía sau đi lên phía bên phải ép xe M sang trái thì K ngồi sau cầm dao trên tay phải giơ lên chém từ phải sang trái về phía Tuyến. Tuyến đưa tay trái lên đỡ thì bị dao chém trúng mu bàn tay trái, T6 cầm dao quắm trên tay phải giơ lên chém 01 nhát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải trúng vào cẳng tay trái của K. Sau đó xe M đi vượt lên phía trước xe V1, xe V1 đi phía sau sát lề đường phải theo hướng di chuyển do có cát nên bánh xe bị rê và người đổ ra đường. K ngồi dưới nền đường cạnh vị trí xe đổ, tay phải K đỡ tay trái bị thương, còn V1 đứng dậy, con dao K vừa cầm rơi trên mặt đường. M dừng xe và quay lại, xe N3 và N cũng vừa đuổi đến vị trí xe V1 thì dừrng lại, N cầm vỏ chai bia còn lại ném về phía xe đổ, vỏ chai bia vỡ bắn vào ngón chân bàn chân phái của K gây chẩy máu. T6 cầm dao quắm trên tay phải nhảy xuống xe chạy về phía K đang ngồi trên đường. Cách vị trí K khoảng 01 mét, T6 vung dao quắm chém 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phái qua trái vào đùi trái K nhưng không gây thương tích. Còn N khi đó lao đến vị trí V1, hai tay cầm gậy kim loại giơ lên cao vụt thì V1 giơ tay lên đỡ và chạy giật lùi lại. N vẫn cầm gậy bằng hai tay chạy đuổi theo để vụt về phía V1 khoảng 4-5 cái, hầu hết đều vụt trúng, quá trình vụt N chửi:“Đ mẹ chúng mày, sao mày đuổi anh em tao". Vụt xong thì N cầm gậy trên tay phải ném gậy về phía V1 nhưng không trúng mà gậy rơi xuống nền đường. Đồng thời khi đó, N3 xuống xe chạy về phía K đá hai nhát vào hông bên trái của K và nhặt con dao của K trên mặt đường rồi cầm trên tay phải chém một nhát về hướng K nhưng không trúng. Còn M và H3 không xuống xe mà M điều khiển xe chở H3 đi về khu vực cổng trường trung học phổ thông T13 để xem xe Kiên có bị làm sao không, trên đường đi Hoàng vứt vỏ két chai bia đang cầm trên tay ở lề đường. Sau đó, N3 cầm con dao vừa nhặt của K quay lại xe mô tô, T6 cầm dao quắm ngồi lên sau xe N3, N ném gậy xong cũng lên xe ngồi sau T6. Biết T6 bị thương ở tay nên N bảo N3 chở T6 vào Trung tâm Y tế huyện T. Đi đến vị trí đầu Đền L2 huyện T, N rê trái đến khu vực công trường cấp 2 thị trấn T thì N bảo N3 dùng xe để cất dao. N3 đưa cho N con dao vừa nhặt được của K, T6 đưa cho N con dao quắm, N cầm để hai con dao vào khe giữa bồn cây lề đường với tường đền L2, rồi cả hai chở T6 vào Trung tâm Y tế huyện T. Tiếp đó, N gọi điện thông báo cho D4 về việc T6 bị chém thì D4 chở K4 và T7 từ đường vành đai vào Trung tâm y tế huyện T, còn V chở H bê 02 két vỏ bia đến một quán ven đường ở thị trấn T. Tuyến vào Trung tâm Y tế huyện T điều trị từ ngày 30/4/2024 đến ngày 06/5/2024 ra viện.
Đối với Hữu H1 bị H chém, K bị T6 chém bị thương sau khi về đến thành phố H được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H, sau đó đều được chuyển lên Bệnh viện H9 điều trị từ ngày 30/4/2024, Phạm Văn K ra viện ngày 06/5/2024, Nguyễn Hữu H1 ra viện ngày 07/5/2024.
Quá trình khám nghiệm hiện trường ngày 30/4/2024, tại khu vực cây xăng V2 thuộc thôn L, xã V, huyện T, Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 mảnh thủy tinh vỡ màu xanh. Ngày 23/7/2024, Nguyễn Đình T10 tự nguyện giao nộp 01 con dao dạng dao mèo. Đối với 01 dao quắm Tuyến dùng gây thương tích cho K, 01 con K chém Tuyến, 01 chiếc kiếm, 01 thanh kim loại, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã rà soát, truy tìm nhưng không thu giữ được.
Sau khi sự việc xảy ra, Ủy ban nhân dân xã V và chính quyền thôn L; Ủy ban nhân dân thị trấn T và chính quyền khu A đều có văn bản đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện T xác minh làm rõ, xử lý nghiêm các đối tượng vì sự việc trên đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 212/KLTTCT ngày 14/6/2024, Trung tâm Pháp y, Sở Y tế tỉnh H kết luận: Sẹo vết thương phần mềm vùng mu bàn tay trái kích thước trung bình; tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T6 là 02% (hai phần trăm); tổn thương trên do vật sắc gây ra.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống ngày 14/6/2024, Trung tâm Pháp y, Sở Y tế tỉnh H kết luận: Vết thương vùng mặt sau đầu dưới cánh tay phải gây đứt gân cơ tam đầu, cơ cánh tay quay, duỗi cổ tay quay dài, đụng dập thần kinh quay, mẻ 1/3 dưới xương cánh tay. Hiện ổn định, để lại sẹo vết thương vùng mặt sau cánh cẳng tay phải kích thước trung bình. Sẹo vết thương phần mềm vùng ngực phía sau bên phải kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu H1 tại thời điểm giám định là 06% (sáu phần trăm). Tổn thương trên do vật sắc gây ra.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 214/KLTTCT ngày 14/6/2024 và Công văn số 04/KLTTCTBS ngày 08/8/2024, Trung tâm P1, Sở Y tế tỉnh H kết luận đối với Phạm Văn K: Vết thương cẳng tay trái gây đứt mất đoạn thần kinh gian cốt sau, được mổ xử lý; hiện liệt nhánh thần kinh gian cốt (thần kinh quay) mức độ nặng, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Vết thương cẳng tay trái gây gãy 1/3 trên xương trụ, được mổ xử lý, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%. Sẹo vết thương, mổ mặt sau giữ trên cẳng tay trái kích thước trung bình, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Sẹo vết thương phần mềm vùng khớp bàn đốt ngón I chân phải kích thước nhỏ, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra được xác định theo phương pháp cộng của thông tư là 22% (hai mươi hai phần trăm).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; các điều 17, 58, 38; điểm s khoán 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào điểm đ khoản 2
Điều 134, Điều 55 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Văn M và Bùi Hữu N. Căn cứ vào các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179, Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Trần Văn M, Bùi Hữu N, Phạm Văn K. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn M, Bùi Hữu N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt bị cáo Trần Văn M 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù tội “Cố ý gây thương tích” và 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Văn M phải chấp hành 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án. Xử phạt bị cáo Bùi Hữu N 01 (một) năm 07 (bẩy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Bùi Hữu N phải chấp hành 03(ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án. Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên tội danh, hình phạt với 13 bị cáo khác, tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, các bị cáo Trần Văn M, Bùi Hữu N, Phạm Văn K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 bị cáo Trần Văn M rút kháng cáo
Tại phiên toà các bị cáo N, K giữ nguyên kháng cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Đối với việc bị cáo Trần Văn M rút kháng cáo: Căn cứ Điều 348 BLTTHS, đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm. Đối với Bùi Hữu N và Phạm Văn K: Do bị cáo xuất trình thêm tài liệu mới nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHH, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Hữu N, Phạm Văn K, giữ nguyên bản án sơ thẩm 08/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
Luật sư bào chữa cho bị cáo N phát biểu bài bào chữa: Tôi hoàn toàn nhất trí về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiêm mức hình phạt của bị cáo tại Tòa án cấp sơ thẩm là nặng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có biên lai nộp quỹ ủng hộ ở địa phương, có xác nhận của địa phương về việc tham gia các hoạt động ở địa phương do UBND xã xác nhận cùng với hồ sơ bệnh án mắc bệnh hiểm nghèo của mẹ bị cáo. Bị cáo cũng đã nộp án phí hình sự sơ thẩm thể hiện sự ăn năn hối cải và chấp hành pháp luật của mình. Đề nghị HĐXX cho bị cáo được thêm hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2, điều 51 BLHS, đề nghị HĐXX áp dụng quy định tại tại điểm e, khoản 1, Điều 357 BLTTHS sửa bản án sơ thẩm và giảm hình phạt tù cho bị cáo để bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Luật sư bào chữa cho bị cáo K phát biểu bài bào chữa: Bị cáo K có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội. Bị cáo Phạm Văn K khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa nhận thức hết hành vi nguy hiểm cho xã hội. Bố mẹ bị cáo ly hôn khi bị cáo còn nhỏ, thiếu thốn sự chăm sóc, giáo dục của gia đình nên bị cáo dễ bị rủ rê, lôi kéo. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã xuất trình biên lai nộp án phí sơ thẩm; ủng hộ quỹ chi hội Chữ thập đỏ số tiền 500.000 đ. Về chính sách pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bản án sơ thẩm đã áp dụng Điều 90, 91 BLHS là phù hợp. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm tuyên bị cáo mức 01 năm 10 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Do vậy, tôi đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 65 BLHS; điểm b khoản 1 Điều 355 BL TTHS, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS; giảm mức hình phạt và cho bị cáo K được hưởng án treo để bị cáo được cải tạo tại địa phương tiếp tục phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội.
Các bị cáo N, K và người đại diện không phát biểu tranh luận
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo N, K nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, vô cùng ăn năn hối cải và đề nghị cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và cho được hưởng án treo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.
[2] Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận: Tối ngày 29/04/2024 đã cùng các bị cáo khác có hành vi điều khiển xe mô tô lạng lách, đánh võng, ném vỏ chai bia, hò hét trên nhiều tuyến đường từ thành phố H đến địa phận T và dùng dao, kiếm gây thương tích cho nhau và làm mất trật tự an ninh ở nơi công cộng làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu, làm hoang mang cho quần chúng nhân dân, xâm phạm sức khoẻ người khác. Toà án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên phạt các bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 và tội cố ý thương tích đối với các bị cáo M, N theo điểm đ khoản 2 Điều 134 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Các bị cáo kháng cáo, có vai trò tích cực trong vụ án và đều tích cực trong quá trình gây rối trật tự công cộng và đều đã thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác, nên cần áp dụng loại hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung là phù hợp. Tuy nhiên bị cáo M đã rút kháng cáo trước khi mở phiên toà, nên HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với M.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo và người đại diện của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo N, K đều chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội, nên được hưởng chính sách hình sự có lợi cho các bị cáo theo khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Do vậy, đối với các tình tiết này cấp sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo và đánh giá đúng tính chất mức độ, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo nên đã tuyên mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo N đã nộp biên lai thu án phí sơ thẩm và biên lai nộp quỹ ủng hộ ở địa phương, có xác nhận của địa phương về việc tham gia các hoạt động ở địa phương do UBND xã xác nhận. Như vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuy nhiên bị cáo N đồng thời phạm 02 tội, nên theo quy định của Điều 65 Bộ luật hình sự Nghị quyết 02 của HĐTP Tối cao thì các bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, giữ nguyên mức hình phạt với bị cáo N. Bị cáo K có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tại cấp phúc thẩm bị cáo K có nộp biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K.
[4] Từ những nhận định trên, HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hữu N, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn K; giữ nguyên về phần hình phạt đối với bị cáo N và giảm 2 tháng tù cho bị cáo K. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt.
[5] Bị cáo Trần Văn M rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm nên HĐXX quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo M.
[6] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo N chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo K và bị cáo M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356, Điều 135 và 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Hữu N, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn K. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; các điều 17, 58, 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Hữu N, Phạm Văn K;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Hữu N.
- Căn cứ vào các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179, Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Bùi Hữu N, Phạm Văn K.
Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Hữu N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Bùi Hữu N 01 (một) năm 07 (bẩy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Bùi Hữu N phải chấp hành 03(ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Văn M.
- Quyết định bắt, tạm giam bị cáo Bùi Hữu N và Phạm Văn K ngay tại tại phiên tòa để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Bùi Hữu N phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Phạm Văn K và Trần Văn M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thế Hưng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đỗ Thị Thanh Giang Phạm Thị Mai Hoa |
Bùi Thế Hưng |
Bản án số 56/2025/HS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 56/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Hữu Nhân và Phạm Văn Khánh PT gây rối trật tự công cộng
