Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HS-PT

Ngày: 10/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Các Thẩm phán: 1/ Bà Lê Thị Minh Trang

2/ Ông Bùi Thanh Quốc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 45/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Lê Hoàng G do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Hoàng G

sinh năm 1979 tại Hậu Giang; Đăng ký thường trú: Số A, đường M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Nơi ở hiện nay: Số A, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Sửa xe mô tô; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: Lê Phước T, sinh năm 1941 (Còn sống); họ tên mẹ: Phan Thị L, sinh năm 1938 (Còn sống); vợ: Lê Thị Thu H (đã ly hôn); con: 02 người – lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2011; anh, chị, em ruột: Có 05 người; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Bản án số 34/2024/HSST ngày 07/5/2024.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Thị T1 – Công ty L1 và Luật sư Châu Thanh B – Công ty L2 thuộc đoàn Luật sư thành phố C. (Có mặt)

Trong vụ án, còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng G và chị Lê Thị Thu H là vợ chồng hợp pháp, tháng 8/2023 chị Thu H có đơn gửi đến Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ yêu cầu ly hôn với G. Ngày 05/10/2023, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là Văng Thị Ngọc Y đã ban hành Thông báo số 332/TB-TA về việc triệu tập G và chị Thu H đến trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, địa chỉ: số D, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 26/10/2023 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đến thời gian, địa điểm mở phiên họp nêu trên, Thẩm phán bắt đầu tiến hành phiên họp và thông qua nội dung phiên họp cho G và chị Thu H nghe thì G ngay lập tức la lớn tiếng, chửi tục, xúc phạm chị Thu H nhiều lần vì cho rằng chị Thu H muốn chiếm đoạt tài sản của G; do thấy G có biểu hiện say xỉn, mất bình tĩnh nên Thẩm phán Y đã nhắc nhở và yêu cầu G bình tĩnh, giữ trật tự để phiên họp được tiếp tục thì G quay sang chỉ tay về phía Thẩm phán Y lớn tiếng nói Thẩm phán Y đã nhận tiền của chị Thu H nên tiếp tay để chị Thu H chiếm đoạt tài sản của G và dùng lời thô tục, xúc phạm Thẩm phán Y nhiều lần. Thấy G có thái độ hung hăng nên chị Thu H đứng dậy đi ra ngoài phòng họp thì G đi theo tiếp tục chửi tục, xúc phạm chị Thu H, lúc này có bảo vệ Tòa án đến nhắc nhở G giữ trật tự nhưng G không chấp hành mà vẫn tiếp tục lớn tiếng xúc phạm chị Thu H, gây mất trật tự tại Tòa án. Trước việc G không hợp tác và bị G dùng lời nói thô tục, xúc phạm nhiều lần làm phiên họp không thể tiến hành được, Thẩm phán giải quyết vụ việc đã lập biên bản về việc không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được, đồng thời vụ việc được báo cho Công an phường A đến đưa G về trụ sở Công an phường làm việc, lập biên bản vi phạm hành chính đối với G.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Hoàng G đã thừa nhận: do bị cáo đã sử dụng rượu, bia trước thời điểm phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 26/10/2023 diễn ra và nghĩ chị Thu H ly hôn để chiếm đoạt tài sản của mình nên bị cáo đã lớn tiếng dùng lời thô tục, xúc phạm chị Thu H để phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không thực hiện được. Khi nghe Thẩm phán giải quyết vụ việc nhắc nhở, bị cáo cũng đã dùng lời thô tục, xúc phạm Thẩm phán.

Tại Bản Cáo trạng số 15/CT-VKSNK ngày 30/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đã truy tố Lê Hoàng G về tội “Gây rối trật tự phiên họp” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 391 Bộ luật Hình sự

Tại bản án hình sự số 38/2025/HS – ST ngày 26/02/2025, Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng G phạm tội “Gây rối trật tự phiên họp”.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 391; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng G 01 (Một) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 03/3/2025 bị cáo kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét xử lý theo hướng cho bị cáo áp dụng hình phạt thay thế (phạt tiền) hoặc xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa:

  • Bị cáo vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc cha mẹ già và gia đình.
  • Bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Hồ Thị T1 phát biểu: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt đã truy tố, xét xử đối với bị cáo. Nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có phần do nhận thức pháp luật kém và do trước đó đã sử dụng rượu bia nên thiếu kiềm chế bản thân. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo quá nghiêm khắc; qua sự việc xảy ra bị cáo đã rất ăn năn hối hận về hành vi đã thực hiện, bị cáo đang trực tiếp chăm sóc cha mẹ già đang bị bệnh. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đủ điều kiện để được xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Luật sư Châu Thanh B phát biểu: Bị cáo phạm tội do lạc hậu, thiếu hiểu biết về pháp luật, hành vi của bị cáo chưa gây ra thiệt hại. Thực tế phiên họp chưa diễn ra vì Thẩm phán chủ trì phiên họp chưa đặt câu hỏi với bị cáo, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tình tiết định khung ở khoản 2 Điều 391 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp. Đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h và điểm m khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà phát biểu và tranh luận:

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự phiên họp” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 391 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cũng như nhân thân của bị cáo đúng quy định. Mức hình phạt đã tuyên theo Bản án sơ thẩm là tương xứng với mức độ, hành vi của bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt.

Tranh luận với ý kiến của Luật sư bào chữa, Kiểm sát viên đánh giá bị cáo không sống ở vùng sâu, vùng xa mà là ở trung tâm thành phố Cần Thơ, có trình độ học vấn nhất định nên không thể cho rằng bị cáo phạm tội do lạc hậu; hành vi của bị cáo xâm phạm đến hoạt động tư pháp nên đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội chưa gây thiệt hại. Bị cáo không đủ điều kiện để được xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, đồng thời nếu cho bị cáo hưởng án treo sẽ không đảm bảo được tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

[2.1] Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 26/10/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, Thẩm phán Văng Thị Ngọc Y có chủ trì phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” giữa nguyên đơn bà Lê Thị Thu H và bị đơn ông Lê Hoàng G. Tại phiên họp, bị cáo Lê Hoàng G có lời lẽ thô tục xúc phạm bà Thu H, được Thẩm phán chủ trì phiên họp nhắc nhở bị cáo chẳng những không chấp hành mà còn lớn tiếng, mắng chửi, xúc phạm Thẩm phán. Trước thái độ của bị cáo bà Thu H bước ra ngoài phòng họp, bị cáo đi theo và tiếp tục mắng chửi. Bảo vệ Toà án đến nhắc nhở bị cáo giữ trật tự nhưng bị cáo vẫn không dừng lại. Thẩm phán giải quyết vụ việc đã lập biên bản về việc phiên họp không tiến hành được, đồng thời báo cho Công an phường A đến đưa bị cáo về trụ sở Công an phường làm việc.

[2.2] Quá trình điều và tại phiên toà bị cáo đều khai nhận vào ngày 26/10/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều bị cáo đã được mời vào phòng họp, Thẩm phán chủ trì phiên họp đã tiến hành kiểm tra căn cước của người tham gia phiên họp và đã thông qua nội dung phiên họp thì bị cáo có phát sinh tranh chấp, cự cãi với chị Thu H, diễn biến sự việc đúng như ghi nhận trong nội dung Bản cáo trạng và Bản án sơ thẩm. Hành vi của bị cáo đã dẫn đến phiên họp không tiếp tục được, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Gây rối trật tự phiên họp” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 391 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét xử lý theo hướng cho bị cáo áp dụng hình phạt thay thế (phạt tiền) hoặc xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy:

[3.1] Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của cơ quan thực thi pháp luật; gây mất an ninh trật tự tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, gây hoang mang, lo lắng cho những người tham dự phiên tòa, phiên họp tại Toà án. Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi mà mình thực hiện là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo, cần có mức hình phạt nghiêm đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[3.2] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, ở phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp. Bị cáo có trình độ học vấn nhất định, sống ở trung tâm thành phố Cần Thơ có đủ điều kiện để nâng cao trình độ nhận thức; hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của Toà án dẫn đến hậu quả là phải dừng phiên họp. Vì vậy thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên không áp dụng thêm cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ bị cáo phạm tội do lạc hậu và phạm tội chưa gây thiệt hại như Luật sư bào chữa đã đề nghị.

[3.3] Bị cáo đã từng chấp hành án phạt tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, mặc dù không là tiền án nhưng qua đó đánh giá được nhân thân và sự thiếu ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên phù hợp với khung hình phạt đã truy tố, xét xử; đánh giá toàn diện tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng. Bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo giáo dục như án sơ thẩm đã đánh giá là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng G.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2025/HS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng G phạm tội “Gây rối trật tự phiên họp”.
  2. Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 391; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng G 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  4. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Cơ quan tố tụng Q. Ninh Kiều;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 56/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng G phạm tội Gây rối trật tự phiên họp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger