Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30 - 5 - 2025

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu;

Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thao - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Thanh Phong – Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 83/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1996

ĐKHKTT: Xóm B, thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình

Hiện nay chị H đang lao động tại Đài Loan

- Bị đơn: Anh Đào Ngọc Q, sinh năm 1994

Địa chỉ: Xóm H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình

(Các đương sự vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Bùi Thị H trình bày:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đào Ngọc Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 29/01/2016 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Khoảng thời gian đầu sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc cùng bố mẹ đẻ của anh Q. Quá trình chung sống anh chị cũng thường xuyên xảy ra cãi vã, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và bất đồng trong việc nuôi dạy con cái. Vì kinh tế gia đình khó khăn nên năm 2019 chị đi lao động tại Đài Loan. Do vợ chồng sống mỗi người một nơi, không có thời gian quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trở nên trầm trọng. Chị và anh Q không có quan tâm và liên lạc với nhau nữa. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Toà án cho chị được ly hôn với anh Q.
  • + Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Đào Bích N, sinh ngày 24/8/2016. Hiện nay cháu N đang sinh sống cùng chị Bùi Thị V (chị gái của chị H) tại thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Ly hôn chị đề nghị Toà án giao cháu N cho chị nuôi dưỡng, trong thời gian chị làm việc tại nước ngoài chị V sẽ hỗ trợ chị chăm sóc cháu N. Chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.
  • + Về tài sản và nợ chung: Chị và anh Q không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – anh Đào Ngọc Q trình bày:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Thời điểm anh và chị H kết hôn đúng như chị H trình bày. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc, hoà thuận, đôi khi vợ chồng cũng xảy ra mâu thuẫn nhỏ do bất đồng quan điểm sống. Đến năm 2019, chị H đi lao động tại Đài Loan, sau đó anh cũng sang Đài Loan để làm việc. Mặc dù cùng đi lao động tại Đài Loan nhưng anh và chị H không sinh sống cùng nhau. Khoảng thời gian đầu sang nước ngoài, vợ chồng vẫn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tuy nhiên càng ngày giữa anh chị càng xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm dẫn rạn nứt. Nguyên nhân là do thay đổi môi trường sống, áp lực công việc và kinh tế gia đình, vợ chồng sống xa nhau không có thời gian quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Anh chị cũng nhiều lần tìm cách để hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay chị H xin ly hôn, anh đồng ý.
  • + Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Đào Bích N, sinh ngày 24/8/2016. Hiện nay cháu N đang sinh sống cùng chị Bùi Thị V (chị gái của chị H) tại thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Anh nhận thấy cháu N được chị V chăm sóc tốt, được học tập, phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần. Chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N sau khi ly hôn, anh đồng ý.
  • Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, anh đồng ý.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị H không có tài sản chung và nợ chung đúng như chị H đã trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Hiện tại chị H đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
    2. Chị H và anh Q đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh Q là đúng quy định pháp luật.
  2. Về nội dung:
    1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Đào Ngọc Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Chị H và anh Q đều xác định cuộc sống hôn nhân của anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn. Việc anh chị không còn liên lạc, quan tâm đến nhau đã thấy rằng mâu thuẫn giữa anh chị đã trở nên trầm trọng. Chị H xin ly hôn, anh Q đồng ý là thể hiện việc cả hai không còn muốn duy trì cuộc sống hôn nhân nữa. Như vậy khẳng định mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị H được ly hôn với anh Q là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
    2. Về nuôi con chung: Chị H và anh Q có 01 con chung là cháu Đào Bích N, sinh ngày 24/8/2016. Hiện tại cháu N đang sinh sống cùng chị Bùi Thị V (chị gái của chị H) tại thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Xét thấy, cháu N đang sinh sống ổn định cùng chị V, được chị V yêu thương và chăm sóc tốt, được học tập và phát triển đầy đủ. Chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, anh Q đồng ý. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung chưa thành niên cần giao cháu N cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

      Chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên Toà án không đặt ra giải quyết.

    3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh Q đều xác định không có tài sản chung và nợ chung nên Toà án không đặt ra giải quyết.
    4. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  3. Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị H. Hội đồng xét xử thấy, đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Đào Ngọc Q
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Đào Bích N, sinh ngày 24/8/2016. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị H nộp tại biên lai 0000485 ngày 31/3/2025 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Anh Đào Ngọc Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Bình Thanh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger