TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-5-2025 V/v: “Ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vọng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thu Cúc;
Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị T, sinh năm 1972. Cư trú tại: Số F, khu phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1972. Cư trú tại: Số F, khu phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 02 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Dương Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Nguyễn Văn D chung sống từ khoảng năm 1990, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2016, ngày 30 tháng 5 năm 2016.
Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian gần đây vợ chồng liên tục xảy ra những mâu thuẫn, tranh cãi gay gắt mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc tính tình không hợp nhau và quan điểm sống quá khác biệt. Ông D thường xuyên chửi mắng bà T; bà T đã nhiều lần nhẫn nhịn, cố gắng chịu đựng để gìn giữ hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Bà T nhận thấy rằng sẽ khó có thể tiếp tục xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc như mong muốn trong tình trạng mâu thuẫn trầm trọng như vậy. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chỉ còn ràng buộc với nhau về mặt pháp lý nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông D.
Về con chung: Bà T và ông D có 02 người con chung là chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 28/7/1990 và anh Nguyễn Văn D1, sinh ngày 20/8/1994. Do chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn D1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông D được.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Dương Thị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; ông Nguyễn Văn D vắng mặt không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật, riêng bị đơn ông Nguyễn Văn D chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa, các đương sự đều có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ngày 20 tháng 02 năm 2025, bà Dương Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn D nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[1.2] Về thẩm quyền: Tại thời điểm thụ lý, bị đơn ông Nguyễn Văn D đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
[1.3] Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Dương Thị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn D vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông D chung sống từ khoảng năm 1990, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2016, ngày 30 tháng 5 năm 2016. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa bà T và ông D là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc nên đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình; do đó hôn nhân giữa bà T và ông D là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình chung sống, bà T xác định vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, thời gian gần đây thì vợ chồng có nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng; ông D thường xuyên chửi mắng bà T; bà T đã nhiều lần nhẫn nhịn, cố gắng chịu đựng để gìn giữ hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả; hiện nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Như vậy, căn cứ vào lời trình bày của bà T, nhận thấy, bà T và ông D không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn là đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông D nhiều lần để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt, điều này chứng tỏ ông D không có thiện chí mong muôn gia đình được đoàn tụ.
Căn cứ vào những phân tích nêu trên, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa bà T và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của bà T, cho bà T được ly hôn với ông D.
[2.2] Về con chung: Bà T và ông D có 02 người con chung là chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 28/7/1990 và anh Nguyễn Văn D1, sinh ngày 20/8/1994. Do chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn D1 đã trưởng thành và bà T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[3] Tại Tòa, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là có cơ sở.
[4]. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ông D không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 238, 266, 267, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị T về việc “Ly hôn” với bị đơn là ông Nguyễn Văn D.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.
1.2. Về con chung: Bà Dương Thị T và ông Nguyễn Văn D có 02 người con chung là chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 28/7/1990 và anh Nguyễn Văn D1, sinh ngày 20/8/1994. Do chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn D1 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Dương Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Dương Thị T đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001554 ngày 27/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thế Vọng |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị T yêu cầu được ly hôn với anh D
