|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30/5/2025
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Nhiên
- Ông Trần Văn Em
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 81/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1979
Địa chỉ: Khu phố D, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Trương Tấn Đ, sinh năm 1980
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:
Bà và ông Trương Tấn Đ tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 01/11/2006 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống, cả hai không có tiếng nói chung, thường xuyên mâu thuẫn không thể hàn gắn, hơn 02 năm nay bà và ông Đ đã không còn chung sống với nhau, ông Đ đang chung sống với người phụ nữ khác, cả hai không còn liên lạc với nhau để hàn gắn tình cảm. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 người con chung là cháu Trương Gia H1, sinh ngày 24/02/2007 và Trương Gia B, sinh ngày 23/10/2010. Cháu H1 đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, cháu B đang ở với bà nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu B.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trương Tấn Đ: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Trương Tấn Đồng Đ1 vắng mặt không có lý do. Không có văn bản thể hiện ý kiến của ông Trương Tấn Đ về yêu cầu khởi kiện của bà H. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim H vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trương Tấn Đ vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với bị đơn ông Trương Tấn Đ. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trương Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Trương Tấn Đ tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 01/11/2006 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Theo bà Nguyễn Thị Kim H, sau khi kết hôn, cả hai thường xuyên mâu thuẫn vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, cuộc sống chung không như mong muốn, lâu dần, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Hơn 02 năm nay ông Đ và bà đã không còn sống chung với nhau, ông Đ đã chung sống với người phụ nữ khác, cả hai cũng không còn liên lạc với nhau để hàn gắn tình cảm. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau nhưng ông Đ vắng mặt chứng tỏ ông Đ không có thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà Nguyễn Thị Kim H.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau. Nhưng giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Trương Tấn Đ không thực hiện được nghĩa vụ vợ chồng với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Kim H ly hôn với ông Trương Tấn Đ là phù hợp với thực tế và đúng qui định của pháp luật.
Về con chung: Xét thấy, cháu Trương Gia H1, sinh ngày 24/02/2007 đã đủ tuổi trưởng thành, bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Đối với cháu Trương Gia B, sinh ngày 23/10/2010 hiện nay đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng, cháu B có nguyện vọng được ở với mẹ, bà H cũng yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu B. Để đảm bảo cuộc sống của cháu B ổn định, được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H.
Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[3]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ông Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- – Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- – Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- – Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H được ly hôn với ông Trương Tấn Đ.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Trương Gia B, sinh ngày 23/10/2010.
Ông Trương Tấn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0003035 ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Bà Nguyễn Thị Kim H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Trương Tấn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thu Thúy |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
