Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST

Ngày 29-5-2025

V/v: “Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thảo Yến – Giáo viên nghỉ hưu
  2. Ông Đỗ Văn Sơn – Cán bộ nghỉ hưu

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QÐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1995. "Có mặt"

Nơi ĐKHKTT: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Nơi cư trú: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T: Ông Vũ Văn N – Luật sư của công ty L thuộc đoàn Luật sư tỉnh Bắc Ninh."Có mặt"

Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1991. "Có mặt"

Cư trú tại: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị T và bị đơn là anh Nguyễn Tuấn K thống nhất trình bày:

Chị T và anh K kết hôn ngày 11/12/2017. Trước khi cưới anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới, anh chị về chung sống với nhau ngay, cuộc sống chung giữa hai vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.

Theo như chị T trình bày, mâu thuẫn giữa chị và anh K phát sinh từ cuối năm 2017, nguyên nhân là do chị phát hiện ra anh K ham chơi cờ bạc, để có tiền chơi cờ bạc anh đã đi vay của những cá nhân cho vay lãi nặng, nhiều lần anh đem xe máy, điện thoại thậm chí cả nhẫn cưới đi cầm cố lấy tiền phục vụ cho nhu cầu "đỏ, đen". Sau khi bị chị và gia đình phát hiện, anh đã nhiều lần xin tha thứ và hứa sẽ thay đổi, nhiều lần chị đã phải bỏ tiền ra chuộc xe, chuộc điện thoại nhưng chỉ được một thời gian ngắn sau đó anh lại tiếp tục đem đi cầm cố tài sản trong nhà để lấy tiền chơi cờ bạc. Do nợ nần không có khả năng trả nên từ cuối năm 2022 đến năm 2023 anh K đã phải đi trốn nợ. Trong thời gian anh K bỏ nhà đi trốn nợ, chủ nợ còn cho người đổ chất bẩn ở cửa nhà chị. Cuối năm 2023, anh K quay về nhà xin lỗi chị và gia đình, hứa sẽ thay đổi, chị đã tha thứ và vợ chồng sinh thêm con thứ 2 vào đầu năm 2024. Chị hy vọng sau khi sinh thêm con thì anh sẽ không ham chơi nữa nhưng càng ngày anh K càng sa đà cờ bạc, nợ nần nhiều hơn; dẫn đến vợ chồng không còn tin tưởng, thương yêu nhau nữa. Sự việc mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần, nhưng không có kết quả. Nay thấy rằng cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên chị xin được ly hôn với anh K theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai của bị đơn, đề ngày 28/4/2025, anh K trình bày: Chị T trình bày về nguyên nhân mâu thuẫn là do anh ham chơi cờ bạc không chịu quan tâm đến gia đình, vợ con là không đúng. Ngày 05/3/2025, chị T tự ý mang con nhỏ về nhà bố mẹ đẻ ở mà không nói gì với anh; đến ngày 08/3/2025, anh đưa con lớn lên nhà ngoại và nói chuyện để đón vợ con về nhưng chị T không đồng ý về nên anh đã dẫn hai con về nhà. Anh xác định vợ chồng không có mâu thuẫn đến mức phải ly hôn nên anh không nhất trí ly hôn với chị T.

Về con chung: Chị T và anh K thống nhất trình bày: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Diệu H, sinh ngày 10/11/2018 và Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 03/02/2024; hiện tại con chung vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn, cả chị T và anh K đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung. Cấp dưỡng nuôi con, chị T và anh K đều không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con phải đóng góp.

Về điều kiện nuôi con: Chị T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày, chị hiện tại đang buôn bán hoa quả ở các chợ, thu nhập từ 13-15 triệu đồng/1 tháng; nếu được nuôi cả hai con thì 3 mẹ con chị sẽ về nhà bố mẹ đẻ ở Bắc Giang sống cùng bố mẹ đẻ chị, chị sẽ tiếp tục buôn bán hoa quả ở gần nhà. Anh K trình bày: Anh đang đang làm thợ xây, thu nhập 16 triệu đồng/1 tháng; anh đã có nhà, đất do bố mẹ xây cho.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị Vi Thị T xác định vợ chồng không có gì, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.

Tại lời khai ngày 08/4/2025, anh K xác định vợ chồng có tài sản chung là số tiền 150 triệu đồng, hiện tại chị T đang giữ, anh đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị T có trách nhiệm trả cho anh một nửa số tiền trên. Tại các lời khai sau đó, tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa, anh K rút lại yêu cầu phân chia số tiền trên; anh xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.

Tại phiên tòa:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh K. Anh K xác định mặc dù vợ chồng đã sống ly thân, anh có thời gian ham chơi, có cắm xe, điện thoại để lấy tiền chơi cờ bạc nhưng thời gian gần đây anh đã thay đổi nên anh mong muốn chị T suy nghĩ lại, rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ cùng nuôi dạy các con trưởng thành. Nếu chị T vẫn kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng chấp nhận.
  • Về con chung: Chị T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp vẫn giữ nguyên đề nghị HĐXX giao cho chị T được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con. Với lý do: Chị có thu nhập cao hơn anh K, công việc của chị ổn định hơn anh K, chị không phải làm đêm, công việc của chị là buôn bán hoa quả, không bị gò bó về thời gian nên chị có điều kiện trực tiếp chăm

sóc và nuôi dưỡng con. Hơn nữa, con chung của anh chị, cháu lớn là con gái rất cần tình cảm, chăm sóc, hướng dẫn của người mẹ, cháu nhỏ mới được hơn 1 tuổi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì chị T đương nhiên được quyền nuôi con; kể từ khi sinh con ra cho đến nay chị là người chăm sóc con nhiều hơn anh K. Không những thế, trong thời gian chung sống, anh K thường xuyên bỏ nhà đi chơi qua đêm, có thời gian anh đã bỏ nhà đi hơn 1 năm để trốn nợ, một mình chị phải ở nhà làm và nuôi con nên chị không thể tin tưởng giao con cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng được. Gia đình chị ở Bắc Giang có hai anh trai chưa lấy vợ đang ở cùng bố mẹ đẻ chị, một anh có hay uống rượu nhưng không phá phách gì, một anh có ảnh hưởng về thần kinh nhưng anh rất hiền lành, biết phụ giúp bố mẹ làm việc nhà, bố chị chỉ uống rượu chứ không say xỉn.

Anh K có quan điểm: Công việc và thu nhập của anh ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Anh ở gần bố mẹ đẻ nên có thể nhờ bố mẹ đẻ anh đón và chăm con giúp (bố mẹ anh còn trẻ và khỏe mạnh). Hoàn cảnh gia đình chị T rất khó khăn, chị T là con út, nhà chị T có hai anh trai đều đã nhiều tuổi mà chưa lấy vợ, bố và một anh trai thường xuyên uống rượu say xỉn, một anh trai thì thần kinh không ổn định. Sau khi ly hôn chị T nói sẽ mang hai con về quê ở thì anh không thể nào yên tâm giao con cho chị T nuôi được. Nếu được giao nuôi con, anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con.

  • Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh K đều xác định vợ chồng không có gì, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.

Đại diện VKSND thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến: Việc Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng thời hạn quy định của pháp luật. Việc Tòa án thu thập chứng cứ và ra các văn bản tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX Điều 28, 35, 39, 58, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị T. Chị Vi Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K.
  • Về con chung: Giao cháu Nguyễn Diệu H, sinh ngày 10/11/2018 cho anh Nguyễn Tuấn K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 03/02/2024 cho chị Vi Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con, anh K và chị T không phải đóng góp. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  • Về tài sản chung: Chị T, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung khi ly hôn nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • Về án phí: Chị T phải chịu án phí LHST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
  2. Tại lời khai ngày 08/4/2025, bị đơn là anh Nguyễn Tuấn K yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chồng là số tiền 150.000.000 đồng. Nhưng tại các lời khai sau đó và tại phiên tòa anh K rút yêu cầu này, anh K cũng không nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung nên Tòa án không thụ lý yêu cầu này của anh K và không xem xét, giải quyết đến phần yêu cầu về tài sản chung là số tiền mà anh K đã rút.

  3. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân:
    2. Tại phiên tòa, chị Vi Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Tuấn K. Lời đề nghị của chị T qua xem xét HĐXX nhận thấy: Chị T và anh K kết hôn từ ngày 11 tháng 12 năm 2017, thủ tục kết hôn phù hợp luật định. Mâu thuẫn giữa chị T và anh K được xác định là do bất đồng về quan điểm sống và do anh K ham chơi nên anh chị đã sống ly thân từ ngày 05/3/2025 cho đến nay. Tại phiên tòa, anh K cũng thừa nhận anh có cầm cố điện thoại, xe máy để lấy tiền chơi cờ bạc khiến chị T nhiều lần phải bỏ tiền trả nợ thay cho anh. Như vậy có thể xác định hôn nhân giữa chị T và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị T được ly hôn anh K là phù hợp với quy định tại Điều 51,

Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

    1. Về con chung:
    2. Anh Nguyễn Tuấn K và chị Vi Thị T có 02 con chung là cháu Nguyễn Diệu H và Nguyễn Tuấn K1; hiện tại hai con chung vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường. Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù cả hai anh chị đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung sau khi ly hôn, xét về điều kiện thu nhập, nơi ở thì cả hai anh chị không có sự chênh lệch. Tuy nhiên, do cháu Tuấn K1 mới được hơn một tuổi nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ trong sinh hoạt, phát triển thể chất và tâm lý. Nếu giao cho chị T nuôi cả hai con thì chị sẽ rất vất vả, hoàn cảnh gia đình chị T rất khó khăn, trong khi đó anh K cũng đủ điều kiện nuôi con và có ông bà nội ở gần phụ giúp; cháu Diệu H đang học lớp 1 trường Tiểu học K2. Do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định về tâm sinh lý và đảm bảo điều kiện học tập ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống của con chung, cần giao cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuấn K1 và giao cho anh K nuôi cháu Diệu H là phù hợp. Cấp dưỡng nuôi con do chị T và anh K đều không yêu cầu nên không phải đóng góp; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    3. Về tài sản chung, nợ chung:
    4. Chị T và anh K đều xác định vợ chồng không có gì, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

  1. Về án phí và quyền kháng cáo:
  2. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 28, 35, 39, 147; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình

Điều 24; 26; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Tuấn K.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Diệu H, sinh ngày 10/11/2018 cho anh Nguyễn Tuấn K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao con chung là Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 03/02/2024 cho chị Vi Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con, anh K và chị T không phải đóng góp. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết khi ly hôn.
  4. Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0000266 ngày 14/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP. Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Bắc Ninh;
  • - UBND phường Kim Chân, TP. Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hoan

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hoàng Thảo Yến

 

Đỗ Văn Sơn

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hoan

7


TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Ngày 29 tháng 5 năm 2025

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn S

Bà Hoàng Thảo Y

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 221/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QÐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1995.

Nơi ĐKHKTT: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Nơi cư trú: Khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh

Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1991.

Cư trú tại: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ: Điều 28, 35, 39, 147; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình

Điều 24; 26; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Tuấn K.

8

K.

  1. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Diệu H, sinh ngày 10/11/2018 cho anh Nguyễn Tuấn K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao con chung là Nguyễn Tuấn K1, sinh ngày 03/02/2024 cho chị Vi Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con, anh K và chị T không phải đóng góp. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  2. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết khi ly hôn.
  3. Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0000266 ngày 14/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

Nghị án kết thúc cùng ngày

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hoàng Thảo Yến

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hoan

 

Đỗ Văn Sơn

 

9

BIÊN BẢN THẢO LUẬN

Ngày 20 tháng 12 năm 2024

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thảo Y

Ông Bùi Quang H1

Tiến hành thảo luận vụ án dân sự thụ lý số: 226/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1992

Trú tại: Đường V, khu B, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1993

Trú tại: Đường V, khu B, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, các quy định của pháp luật

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH NHƯ SAU

Xét thấy: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Minh H2 có đơn đề nghị hoãn phiên tòa.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 233 và 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định: Hoãn phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 226/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024.

Thời gian mở lại phiên tòa được ấn định vào hồi 7 giờ 30 phút ngày 30/12/2024

Địa điểm mở lại phiên tòa: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Biểu quyết: 3/3 nhất trí

Biên bản kết thúc cùng ngày.

Biên bản thảo luận đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

10

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thảo Yến

Bùi Quang Hợi

Trần Thị Hoan

BIÊN BẢN THẢO LUẬN

Ngày 30 tháng 12 năm 2024

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thảo Y

Ông Bùi Quang H1

Tiến hành thảo luận vụ án dân sự thụ lý số: 226/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1992

Trú tại: Đường V, khu B, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1993

Trú tại: Đường V, khu B, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, các quy định của pháp luật

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH NHƯ SAU

Xét thấy: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là anh Phạm Tiến Q có đơn đề nghị hoãn phiên tòa.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 233 và 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự

11

Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định: Hoãn phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 226/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024.

Thời gian mở lại phiên tòa được ấn định vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 31/12/2024

Địa điểm mở lại phiên tòa: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Biểu quyết: 3/3 nhất trí

Biên bản kết thúc cùng ngày.

Biên bản thảo luận đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hoàng Thảo Yến

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hoan

Bùi Quang Hợi

 

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger