TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-5-2025
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quy và anh Biện Hữu Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Phòng xét xử B – Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm canh khai vụ án thụ lý số 65/2025/TLST- HNGĐ ngày 11/3/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025, quyết định hoãn phiên toà số 42/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hồ Thị M, sinh năm 1999
Thường trú: Số D, tổ N, ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên lạc: Số E T, phường B, Quận B, TP .
Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1991
Thường trú: Số D, tổ N, ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
( Chị M có đơn xét xử vắng mặt, anh Đ vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Văn Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ vào ngày 07/12/2017, vào sổ đăng ký kết hôn số 149/2017. Cuộc sống chung hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hoà hợp, không tìm được tiếng nói chung về tiền bạc nên thường xuyên cãi nhau. Từ năm 2022 đến nay chị và anh Đ không còn chung sống với nhau. Từ lúc sống ly thân đến nay hai người mạnh ai nấy sống. Hiện nay chị không còn tình cảm yêu thương dành cho anh Đ nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Văn Đ.
- Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung tên là Huỳnh Thảo M1, sinh ngày 30/10/2016. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn anh Nguyễn Văn Đ1 không đến Tòa án để làm việc, đã đến địa phương nhưng không ghi được lời khai của anh Đ1.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập niêm yết hợp lệ nhưng vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M. Về hôn nhân: Cho chị M được ly hôn với anh Đ1. Về con chung: Giao con chung Huỳnh Thảo M1, sinh ngày 30/10/2016 cho chị M được nuôi dưỡng, tạm thời miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ1 do chị M không yêu cầu. Tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét. Về án phí: Chị Mới phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1]. Xác định thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Bị đơn anh Huỳnh Văn Đ có nơi cư trú tại: ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán. Chị M yêu cầu ly hôn và nuôi con vì vậy cần xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Xác định tư cách đương sự: Ngày 11/3/2025, Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện về việc chị M xin ly hôn với anh Đ. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị M là nguyên đơn, anh Đ là bị đơn trong vụ án.
[1.3]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập niêm yết hợp lệ, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị M và anh Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ vào ngày 07/12/2017, vào sổ đăng ký kết hôn số 149/2017. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tại các biên bản xác minh ngày 28/3/2025, bản tự khai ngày 24/3/2025 thể hiện vợ chồng chị có mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp nhau về tính tình, không có tiếng nói chung và thường xuyên cãi nhau. Từ cuối năm 2022 chị M đã bỏ ra ngoài ở, làm nghề may gia công, từ đó đến nay 02 người không còn sống chung với nhau, bỏ mặc nhau, mạnh ai nấy sống, không tự hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định chị M và anh Đ đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận nên cho chị M được ly hôn với anh Đ.
- Về nuôi con chung: có 01 con chung Huỳnh Thảo M1, sinh ngày 30/10/2016. Từ khi sống ly thân năm 2022 đến nay, chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị làm nghề may gia công, thu nhập trung bình dao động khoảng 10.000.000đ/tháng nên đủ điều kiện nuôi con và con được đi học đầy đủ. Bên cạnh đó nguyện vọng của cháu M1 là mong muốn được ở với mẹ. Để bảo đảm cuộc sống cho con chung phát triển tốt về mặt thể chất cũng như ổn định vấn đề tinh thần, tâm lý cho trẻ nên tiếp tục giao con chung cho chị M nuôi dưỡng là có cơ sở. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình, do đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời miễn cho anh Đ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị M khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ không có văn bản trình bày kiến về tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, khi có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Chị Mới phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn.
[4] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị M.
- - Về hôn nhân: Chị Hồ Thị M được ly hôn với anh Huỳnh Văn Đ.
- - Về nuôi con chung: Giao con chung Huỳnh Thảo M1, sinh ngày 30/10/2016 cho chị Hồ Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng, tranh nom, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời miễn cho anh Đ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, anh Đ và chị M có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Khi có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Chị Hồ Thị M phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ chị M đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011530 ngày 11/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.
- Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Báo cho chị M và anh Đ biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết canh khai.
Nơi nhận:
- - VKSND huyện Định Quán;
- - Chi cục THA DS huyện Định Quán;
- - Các đương sự (để thi hành);
- - UBND xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, số 149/2017, ngày 07/12/2017 để ghi vào sổ hộ tịch;
- - Lưu Hồ sơ – Lưu trữ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHỊ HỒ THỊ M YÊU CẦU ĐƯỢC LY HÔN ANH HUỲNH VĂN Đ
