Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỸ HÀO

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25/6/2025

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Xuân Hùng.

2. Bà Đặng Thị Tuyết Hương.

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đăng Toàn - Thư ký của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Khá - Kiểm sát viên.

Ngày 25/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/4/2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Hồ Thị L, sinh năm 1981.

Địa chỉ HKTT: Tổ dân phố N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

Địa chỉ nơi ở: Tổ dân phố T, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

* Bị đơn: Anh Vũ Anh M, sinh năm 1979.

Địa chỉ HKTT: Tổ dân phố N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

Nơi làm việc: Công ty Cổ phần M5 (Địa chỉ: Quốc lộ E, Tổ dân phố P, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên).

* Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1956.

Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

2. Cháu Vũ Thị Hồng M1, sinh ngày 20/01/2001.

Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

(Tất cả đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn trình bày như sau:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ A Mẫn tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện M (nay là Ủy ban nhân dân phường B, thị xã M), tỉnh Hưng Yên năm 2000 và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, chị về chung sống bình thường với anh M tại thôn N, xã B (nay là Tổ dân phố N, phường B), thị xã M. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng về quan điểm sống, không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn xây dựng kinh tế gia đình, dẫn đến vợ chồng xảy ra to tiếng, cãi vã, không tìm được tiếng nói chung; hai bên gặp nhau để hàn gắn mâu thuẫn nhưng cứ gặp nhau là lại bất đồng, không nói chuyện được với nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để vợ chồng bỏ qua mâu thuẫn nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể nói chuyện được với nhau. Chị đã đi ra ở trọ, nhưng anh M tìm đến khu trọ, gây ầm ĩ, gây áp lực, dẫn đến chủ trọ không cho tôi thuê nữa. Nếu chị không về thì anh M còn gây khỏ khăn cho chị đủ thứ. Do đó, vào đầu tháng 5 năm 2025, chị buộc phải về nhà chung của hai vợ chồng. Việc ở chung một nhà là bắt buộc đối với chị trong hoàn cảnh này. Chứ không phải là còn tình cảm mà quay về nhà chung sống cùng anh M, không có chuyện vợ chồng không còn mâu thuẫn, không có chuyện vợ chồng đã đoàn tụ. Do đó, mặc dù ở chung một nhà, nhưng mỗi người một tầng, không quan hệ vợ chồng, không ai quan tâm đến ai, vẫn đang ly thân nhau, vẫn việc của ai người ấy lo, thu nhập của ai người đó quản lý. Thực tế, chị và anh M không còn tình cảm. Anh M không đến Tòa án làm việc chỉ là gây khó khăn, kéo dài cho việc giải quyết vụ án. Nếu anh M muốn vợ chồng về đoàn tụ thì phải đến Tòa án trình bày và phải có biện pháp để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng. Nhưng anh M2 vắng mặt, lại có ý kiến là “muốn làm gì thì làm, Tòa án đừng đến công ty làm phiền anh”. Các giấy tờ, văn bản của tòa án gửi cho anh M, phía anh M đều nhận được và gửi cho chị biết và có những lời nói không đúng mực. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn nhưng không được. Vì vậy, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể sống chung. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M để mỗi bên ổn định cuộc sống.

[2]. Về con chung: Chị và anh M có 03 con chung là cháu Vũ Hoàng M4, sinh ngày 20/01/2001, cháu Vũ Hồng M1, sinh ngày 20/01/2001 và cháu Vũ Hùng M3, sinh ngày 18/8/2006. Đối với cháu Hoàng M4 và cháu H M4 đã kết hôn, có gia đình riêng; đối với cháu M3 hiện đang ở với chị và anh M trong một nhà. Cả 03 cháu đều đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự lo cho bản thân được. Trong đó, có cháu Vũ Thị Hồng M1 và cháu Vũ Thị Hoàng M4 đã kết hôn, có gia đình riêng. Vì vậy, khi ly hôn chị tự nguyện không yêu cầu giải quyết về con chung và cấp dưỡng nuôi con.

[3]. Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn là anh Vũ Anh M: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã gửi tất cả các văn bản tố tụng thông qua gia đình, bằng đường bưu điện và đồng thời niêm yết tại địa phương thông báo, giấy triệu tập cho anh M nhưng anh M không đến Tòa án để làm việc theo yêu cầu. Tòa án đã tiến hành xác minh với bưu điện thị xã M cho thấy, anh M đã nhận được giấy triệu tập, thông báo của Tòa án, phù hợp với giấy tờ, tài liệu chị L giao nộp cho Tòa án thể hiện việc anh M đã nhận được văn bản tố tung. Tuy nhiên, anh M vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án không lấy được lời khai của anh M về tất cả các vấn đề của vụ án.

* Quan điểm của người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị V (là Mẹ đẻ của anh Vũ Anh M) trình bày: Bà được biết, trong quá trình chung sống giữa anh M và chị L có những mâu thuẫn nhỏ vì vợ chồng nhà ai cũng có lúc xô xát. Do anh M và chị L trục trặc nên chị L đã đi ra khỏi nhà nhưng anh M đã khuyên và chị L đã về chung sống cùng nhau, còn việc ở với nhau thì anh chị tự quyết định.

Cháu Vũ Thị Hồng M1 (là con chung của chị L, anh M) trình bày: Cháu được biết, giữa bố và mẹ cháu đã xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, tần suất rất nhiều. Thời điểm mâu thuẫn xảy ra khoảng 10 năm nay và mẹ cháu vẫn cố gắng chịu đựng. Nguyên nhân mâu thuẫn, cháu được biết là do bố mẹ cháu bất đồng về quan điểm sống. Nguyên nhân chính là do bố cháu, tính gia trưởng, thỉnh thoảng còn đánh mẹ cháu nên mẹ cháu rất khổ. Cháu và các chị em cháu đã nhiều lần khuyên bảo bố mẹ cháu nhưng tình cảm bố mẹ cháu vẫn chưa được cải thiện. Ông bà nội, ngoại hai bên đều biết và đều khuyên bố cháu thay đổi cách sống, cách cư xử và bố mẹ hàn gắn mâu thuẫn nhưng đến nay vẫn không được. Thực tế, hiện tại bố mẹ cháu không ở cùng nhau. Cháu thấy mẹ cháu rất buồn khi rơi vào tình cảnh như thế này. Mẹ cháu đã suy nghĩ rất nhiều, trước khi quyết định làm đơn xin ly hôn. Và cháu thấy rằng việc mẹ cháu xin ly hôn thời điểm này là đã quá sức chịu đựng rồi.

* Ủy ban nhân dân phường B xác cung cấp: Anh Vũ Anh M và chị Hồ Thị L đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên năm 2000 và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau đó chị L có về chung sống cùng anh M tại thôn N, xã B, huyện M (nay là Tổ dân phố N, phường B, thị xã M), tỉnh Hưng Yên. Trong quá trình chung sống, giữa chị L và anh M đã phát sinh mâu thuẫn cụ thể thế nào thì địa phương chưa nắm được nhưng thực tế hiện tại anh, chị mỗi người sống một nơi. Nay chị L làm đơn xin ly hôn với anh M và đã trình bày cụ thể nguyên nhân mâu thuẫn, lý do ly hôn, điều đó đã chứng tỏ tình cảm vợ chồng vẫn chưa được cải thiện. Nếu chị L và anh M mà thỏa thuận được với nhau về việc ly hôn thì đề nghị giải quyết theo nguyện vọng của anh chị, còn nếu trường hợp chị L và anh M không thống nhất được với nhau thì địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng hòa giải không thành nên phải đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay: Vắng mặt nguyên đơn là chị L (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); vắng mặt bị đơn là anh M lần thứ hai không có lý do; vắng mặt người làm chứng bà V và cháu M1 nhưng đều có đơn và lời khai đề nghị xét xử vắng mặt. Chủ toạ phiên toà công bố đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của nguyên đơn chị L; tóm tắt nội dung khởi kiện của chị L và công bố lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành mở phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử độc lập, Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị L, giải quyết cho chị Lưu ly H1 anh M; Về con chung: Các con chung của anh chị đều đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự: Không đặt ra giải quyết; Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này, nếu sau này các bên có yêu cầu mà có căn cứ sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Hồ Thị L và anh Vũ A Mẫn tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện M (nay là Ủy ban nhân dân phường B, thị xã M), tỉnh Hưng Yên năm 2000 và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn là đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Nay chị L khởi kiện xin ly hôn với anh M nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn là anh M có địa chỉ đăng ký thường trú tại Tổ dân phố N, phường B, thị xã M và nơi làm việc có địa chỉ tại Tổ dân phố P, phường D, thị xã M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn là chị L (có đơn xin giải quyết vắng mặt); vắng mặt bị đơn là anh M lần thứ hai không có lý do; vắng mặt người làm chứng là cháu Hồng M1 và bà V nhưng đã có lời khai đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án xét xử vắng mặt tất cả những người này là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Lời trình bày của chị L, cháu Hồng M1 và nội dung xác minh tại Ủy ban nhân dân phường B có đủ cơ sở xác định: Chị L và anh M kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện M (nay là Ủy ban nhân dân phường B, thị xã M), tỉnh Hưng Yên năm 2000 và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh M là hợp pháp. Nay chị L có yêu cầu xin ly hôn với anh M sẽ được áp dụng Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết theo thủ tục chung.

Xét yêu cầu được ly hôn của chị L thì thấy: Lời trình bày của chị L và cháu Hồng M1 đã thể hiện rõ trong quá trình chung sống giữa chị L và anh M đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống, mâu thuẫn đã trầm trọng. Hai bên gia đình đã cố gắng hàn gắn mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Việc anh M không đến Tòa án làm việc là thể hiện thái độ không hợp tác, không có biện pháp gì để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, kéo dài về mặt thời gian, làm cho mâu thuẫn vợ chồng càng thêm căng thẳng, không hàn gắn được. Thực tế hai bên không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng vẫn ly thân nhau và chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn. Nên quan điểm của bà V về việc chị L và anh M về đoàn tụ là không có cơ sở. Điều đó cho thấy tình cảm yêu thương gắn bó giữa anh chị không còn, phản ánh đúng thực trạng hôn nhân của vợ chồng là cuộc sống không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, có đầy đủ căn cứ xử cho ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu của chị L và giải quyết cho chị L được ly hôn với anh M để mỗi bên ổn định cuộc sống.

[3] Về con chung: Chị L và anh M có 03 con chung là cháu Vũ Hoàng M4, sinh ngày 20/01/2001, cháu Vũ Hồng M1, sinh ngày 20/01/2001 và cháu Vũ Hùng M3, sinh ngày 18/8/2006. Đối với cháu Hoàng M4 và cháu H M4 đã kết hôn, có gia đình riêng; đối với cháu M3 hiện đang ở với chị và anh M. Cả 03 cháu đều đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự lo cho bản thân được. Quan điểm của chị L tự nguyện không yêu cầu giải quyết, còn phía anh M không có ý kiến gì. Vì vậy, không đặt ra giải quyết về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án này.

[4] Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Chị L tự nguyện không yêu cầu giải quyết, còn phía anh M không có ý kiến gì. Vì vậy, không đặt ra giải quyết trong vụ án này, nếu sau này các bên có yêu cầu mà có căn cứ sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Chị Hồ Thị L phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị L được ly hôn anh Vũ Anh M.

[2]. Về con chung: Không đặt ra giải quyết.

[3]. Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

[4]. Về án phí: Chị Hồ Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm ly hôn. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003571 ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Chị L đã nộp xong án phí sơ thẩm ly hôn.

[5]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Mỹ Hào;
  • - Chi cục T.H.A DS thị xã Mỹ Hào;
  • - Phòng TTr-Ktra - THA - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - Nguyên đơn;
  • - Bị đơn;
  • - UBND phường Bạch Sam;
  • - Lưu HS vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thơm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình giữa chị L và anh M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger