|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Trúc Linh
Bà Hồ Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 81/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Danh Thị N, sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Quốc T, sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp F, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn bà Danh Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T tự nguyện tổ chức lễ cưới, đến ngày 04/01/2012 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L (nay là thị xã L), tỉnh Hậu Giang, chung sống với nhau khoảng 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cự cải từ đó làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Nhận thấy vợ chồng thật sự không còn tình cảm nên không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng được nữa nên bà N yêu cầu ly hôn với ông T, các bên đã không còn sống chung khoảng hơn 01 năm nay.
Về con chung: Bà N và ông T có 02 con chung tên Lê Gia T1, giới tính nam, sinh ngày 13/8/2011 và Lê Ngọc T2, giới tính nữ, sinh ngày 21/11/2016, hiện 02 con chung đang sống chung với bà N. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu nuôi con, chưa yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Lê Quốc T nhưng bị đơn vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N. Bà N được ly hôn với ông T. Về con chung: Bà Danh Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Gia T1, giới tính nam, sinh ngày 13/8/2011 và Lê Ngọc T2, giới tính nữ, sinh ngày 21/11/2016. Ông Lê Quốc T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Lê Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: không có, nên không giải quyết. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã L nên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Lê Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Danh Thị N và ông Lê Quốc T tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 04/01/2012 tại UBND xã L, huyện L (nay là thị xã L), tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống ông bà hạnh phúc và nhưng dần về sau xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc. Bà N cương quyết ly hôn với ông T. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa ông bà là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà N.
[2.2] Về con chung: Bà N và ông T có 02 con chung Lê Gia T1, giới tính nam, sinh ngày 13/8/2011 và Lê Ngọc T2, giới tính nữ, sinh ngày 21/11/2016, hiện đang sống chung với bà N. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu nuôi con, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng con chung Gia T1 muốn sống chung với bà N. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định cho con chung, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 con chung cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Ông T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Danh Thị N.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Danh Thị N và ông Lê Quốc T được ly hôn.
- [3] Về con chung: Bà Danh Thị N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Gia T1, giới tính nam, sinh ngày 13/8/2011 và Lê Ngọc T2, giới tính nữ, sinh ngày 21/11/2016. Ông Lê Quốc T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Lê Quốc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- [4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
- [5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Danh Thị N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002770 ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Bà Danh Thị N đã nộp xong án phí.
- [6] Nguyên đơn bà Danh Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/6/2025). Bị đơn ông Lê Quốc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thanh Quyền |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
