TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/6/2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Yến Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lưu Thị Thôi;
- Ông Đỗ Văn Hòa;
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Mỹ T – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 401/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 339/2025/QÐST-HNGĐ ngày 03/6/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị E, sinh năm 1985.
Trú tại: Số C T, khu phố B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Ông Trương Quốc B, sinh năm 1981.
Trú tại: khu phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà E, vắng mặt ông B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Bà Bùi Thị E và ông Trương Quốc B tự tìm hiểu, quen biết nhau, đến năm 2015 thì đi đến hôn nhân nhưng đến năm 2021 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, cấp ngày 30/11/2021.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, yêu thương nhau, cùng nhau lo cho gia đình và con cái. Nhưng thời gian gần đây chúng tôi xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm, nên thường xuyên cãi vã, đời sống vợ chồng nhiều áp lực và không còn hạnh phúc. Chúng tôi cũng đã cố gắng hòa giải đế tiếp tục lo cho các con, nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung.
Nay bà E xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên bà E làm đơn mong Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Trương Quốc B.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung tên Trương Bảo N, sinh ngày 23/11/2015 và Trương Bảo Q, sinh ngày 20/9/2021.
Sau khi ly hôn, bà Bùi Thị E có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trương Bảo N và Trương Bảo Q. Không yêu cầu ông Trương Quốc B cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Trương Quốc B đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông B vẫn vắng mặt nên Toà án không ghi lời khai, không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải được.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và vắng mặt tại phiên tòa.
- Về nội dung : Qua xem xét hồ sơ và lời khai của đương sự tại phiên tòa, Viện kiểm sát thấy rằng tình cảm vợ chồng giữa bà Bùi Thị E và ông Trương Quốc B không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó đề nghị HĐXX:
Về hôn nhân : chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị E. Bà Bùi Thị E được ly hôn ông Trương Quốc B.
Về con chung: bà E và ông B có 02 con chung tên Trương Bảo N, sinh ngày 23/11/2015 và Trương Bảo Q, sinh ngày 20/9/2021.
Sau khi ly hôn, bà E có nguyện vọng trược tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trương Bảo N và Trương Bảo Q, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà E về nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: bà E không yêu cầu ông B cấp dưỡng tiền nuôi con nên không xét.
Về tài sản chung và nợ chung: do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, nghe lời trình bày của đương sự và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Thị E có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Trương Quốc B. Ông B là bị đơn trong vụ án có địa chỉ cư trú tại: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà E thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về việc xét xử vắng mặt:
Ông Trương Quốc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào Điều 70, Điều 72, Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem như ông B đã tự khước từ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và tiến hành xét xử vắng mặt ông B.
[3] Về hôn nhân: Bà Bùi Thị E và ông Trương Quốc B tự tìm hiểu, quen biết nhau, đến năm 2015 thì đi đến hôn nhân nhưng đến năm 2021 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, cấp ngày 30/11/2021 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng thì phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình hạnh phúc đồng thời phải biết tôn trọng, giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau. Qua lời khai của bà E hôn nhân ông bà không còn hạnh phúc, ông bà không còn quan tâm, tôn trọng, chung sống với nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, ông bà đã sống ly thân từ năm 2022 ông B về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông B luôn vắng mặt không có lý do chính đáng, không thể hiện mong muốn hòa giải tiếp tục đời sống hôn nhân với bà E. Điều này chứng tỏ mối quan hệ hôn nhân của ông bà đã thật sự rạn nứt, nếu tiếp tục chung sống cũng không có hạnh phúc. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi và nhằm ổn định cuộc sống cho các bên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà E là phù hợp.
[4] Về con chung: bà E và ông B có 02 con chung tên Trương Bảo N, sinh ngày 23/11/2015 và Trương Bảo Q, sinh ngày 20/9/2021.
Tại phiên toà, bà E có nguyện vọng trược tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trương Bảo N và Trương Bảo Q. Và không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện 02 cháu Bảo N và Bảo Q đang ở cùng bà E, do bà E đang trực tiếp nuôi dưỡng, vì cháu đã quen với cuộc sống cùng mẹ. Sau ly hôn, bà E có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu và nguyện vọng của cháu N cũng muốn được ở với mẹ. Trong quá trình giải quyết ông B không đến Tòa để thể hiện ý kiến về vấn đề con chung. Để đảm bảo đời sống của 02 cháu được ổn định nghĩ nên giao 02 con Trương Bảo N, sinh ngày 23/11/2015 và Trương Bảo Q, sinh ngày 20/9/2021 cho bà Bùi Thị E tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó căn cứ theo Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà E, giao 02 cháu cho bà E trực tiếp nuôi dưỡng.
[5] Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị E không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung: Bà Bùi Thị E không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về nợ chung: Bà Bùi Thị E không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến trình bày của đương sự, cũng như quan điểm đề nghị tại Tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về việc xin ly hôn của bà Bùi Thị E và về con chung, cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bà Bùi Thị E phải chịu 300.000 đồng án phí về việc yêu cầu xin ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 70, Điều 72, Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị E. Bà Bùi Thị E được ly hôn với ông Trương Quốc B.
Về con chung: Ông bà có 02 con Trương Bảo N, sinh ngày 23/11/2015 và Trương Bảo Q, sinh ngày 20/9/2021.
Giao 02 con chung tên Trương Bảo N, sinh ngày 23/11/2015 và Trương Bảo Q, sinh ngày 20/9/2021 cho bà Bùi Thị E trực tiếp nuôi dưỡng.
Về án phí: Bà Bùi Thị E phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 13/11/2024, bà E đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Phan Thiết thu biên lai số 0002355 nay được chuyển sang án phí 300.000 đồng.
Án xử công khai có mặt các đương sự. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày tính từ ngày tuyên án (23/6/2025) và của bị đơn tính từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Yến Linh |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Bùi Thị E và ông Trương Quốc B
