|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18/6/2025 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy
Bà Nguyễn Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham
gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Tòa án Lâm Hà giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị A, sinh năm: 1989.
- Bị đơn: anh Ngô Phạm Quỳnh T, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(chị A có mặt, còn anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Phạm Thị A trình bày: chị và anh T xây dựng gia đình với nhau năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, anh T lại hay đánh đập chị. Chị A đã nhiều lần nói chuyện với anh T để vợ chồng giải quyết mâu thuẫn và cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng anh T vẫn không thay đổi làm cho cuộc sống gia đình vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không giải quyết được. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên chị A và anh T đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể cải thiện được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị A xác định vợ chồng có một con chung là Ngô Gia N, sinh ngày 13/10/2018. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị A xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Ngoài ra chị A không trình bày và yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Ngô Phạm Quỳnh T trình bày: Anh và chị A kết hôn vào năm 2018 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, anh lại nóng tính nên khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn anh có đánh chị A. Anh và chị A đã nhiều lần nói chuyện vợ chồng giải quyết mâu thuẫn và cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được. Do không tìm được biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng nên anh T và chị A đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị A làm đơn yêu cầu ly hôn với anh thì anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh T xác định vợ chồng có một con chung là Ngô Gia N, sinh ngày 13/10/2018, khi ly hôn anh T đồng ý giao con chung cho chị A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung anh T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đồng thời, anh T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị A, xử cho chị A được ly hôn với anh T. Về con chung: giao con chung là Ngô Gia N, sinh ngày 13/10/2018 cho chị A có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Ngô Phạm Quỳnh T có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngô Phạm Quỳnh T theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị A và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng vào ngày 23/5/2018. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, chị A xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể cải thiện được nên làm đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy, vợ chồng chị A, anh T phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, hơn nữa do vợ chồng chưa biết cách dung hòa, chia sẻ với nhau trong cuộc sống hôn nhân nên thường hay xảy ra tranh cãi. Đồng thời, trong lúc nóng giận không kiềm chế được bản thân anh T lại có hành vi đánh đập chị A, khiến cho mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Do không tìm được biện pháp cải thiện nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Mặc dù thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không thể cải thiện được do mâu thuẫn kéo dài. Tại phiên tòa, chị A xác định mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, còn anh T vắng mặt nhưng trong lời khai của mình thì anh cũng đồng ý ly hôn. Do đó nếu cứ tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự do tình cảm vợ chồng không còn khả năng để cải thiện, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị A, xử cho chị A được ly hôn với anh T.
[2] Về con chung: Chị Phạm Thị A và anh Ngô Phạm Quỳnh T có một con chung là Ngô Gia N, sinh ngày 13/10/2018. Khi ly hôn, chị A yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, còn anh T cũng đồng ý giao con chung cho chị A có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì con chung vẫn được chị A chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Hơn nữa, cháu N đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ không chung sống với nhau. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung là Ngô Gia N, sinh ngày 13/10/2018 cho chị Phạm Thị A có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con, do chị A không yêu cầu nên không xem xét.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: chị A và anh T đều xác định không có và không yêu cầu gì nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: chị A phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị A, xử cho chị Phạm Thị A và anh Ngô Phạm Quỳnh T được ly hôn.
- Về con chung: giao con chung là Ngô Gia N, sinh ngày 13/10/2018 cho chị Phạm Thị A có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Ngô Phạm Quỳnh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: chị Phạm Thị A phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Phạm Thị A đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005280 ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị Phạm Thị A đã nộp đủ án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Chị Phạm Thị A có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/6/2025), riêng anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Thúy |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN |
|
Nguyễn Thị Thùy Nguyễn Thị Hiền |
Phạm Thị Thúy |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Phạm Thị A ly hôn với anh Ngô Phạm Quỳnh T
