|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày 18-6-2025 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thiện
- Ông Lê Hoàng Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Đường đường T2, tô V2, thôn X2, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Số nhà U3, đường T3, khu phố X3, thị trấn Đ4, huyện Đ1, tỉnh B.
Chị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh D vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện không đề ngày được gửi đến Tòa án ngày 07/3/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Văn D tự nguyện tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn thị trấn Đ4, huyện Đ1, tỉnh B vào năm 2023.
Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, không hạnh phúc, không hiểu nhau, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều điểm khác biệt trong đời sống hàng ngày, không thể hòa hợp nên thường cãi vả, cả hai đã cố gắng điều chỉnh nhiều để vợ chồng hiểu nhau từ đó có cuộc sống hạnh phúc nhưng không thể cải thiện. Bên cạnh đó, anh D thường xuyên cờ bạc gây nợ nên cuộc sống của chị H rất áp lực do nhiều người đến đòi nợ. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02/2025 đến nay.
Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn D đã được Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh D không đến Toà án làm việc, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Ngày 13/5/2025, Tòa án xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng trong quá trình chung sống giữa chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn D tại nơi cư trú và được cung cấp: Anh Nguyễn Văn D có đăng ký thường trú và sinh sống tại Số nhà U3, đường T3, khu phố X3, thị trấn Đ4, huyện Đ1, tỉnh B. Quá trình chung sống, giữa chị H và anh D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vả, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống về tài chính gia đình, không hợp tính cách. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02/2025 đến nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
+ Về nội dung vụ án: Thấy rằng năm 2023, chị H, anh D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, do đó hôn nhân là hợp pháp. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H, anh D đã trầm trọng thể hiện ở việc vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, chị H không còn tình cảm và không muốn tiếp tục sống chung với anh D, nhận thấy, cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh D không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được, anh D không đến Tòa án làm việc để hàn gắn tình cảm vợ chồng, nay chị H yêu cầu ly hôn cần chấp nhận; Về con chung, về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết là có cơ sở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 02/6/2025 và ngày 18/6/2025 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng H và anh Nguyễn Văn D tự nguyện tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn thị trấn Đ4, huyện Đ1, tỉnh B và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 97, ngày 19/7/2023, nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
[3] Theo tài liệu, chứng cứ thu thập và lời khai của chị Nguyễn Thị Hồng H thì sau khi kết hôn, vợ chồng có nhiều điểm khác biệt trong đời sống hàng ngày, không thể hòa hợp nên thường cãi vả, cả hai đã cố gắng điều chỉnh nhiều để vợ chồng hiểu nhau từ đó có cuộc sống hạnh phúc nhưng không thể cải thiện. Bên cạnh đó, anh D thường xuyên cờ bạc gây nợ nên cuộc sống của chị H rất áp lực do nhiều người đến đòi nợ. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02/2025 đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn D đến làm việc để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh D không có mặt. Bên cạnh đó, chị Nguyễn Thị Hồng H cũng có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải với anh Nguyễn Văn D. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của anh, chị đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.
[4] Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc anh Nguyễn Văn D bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân, cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị H và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng H.
[5] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung.
[6] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[7] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng H đối với anh Nguyễn Văn D. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 8, 9, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng H đối với anh Nguyễn Văn D về việc ly hôn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng H được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005353 ngày 11/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Chị Nguyễn Thị Hồng H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Mỹ Dung |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn giữa chị H với anh D
