Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16-6-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Tống Văn Tâm;
  2. Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 86/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Hồng C, sinh năm 1993; thường trú: Ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Tổ B, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Vũ L, sinh năm 1991; thường trú: Ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Tổ B, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/5/2024, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, ý kiến của nguyên đơn bà Võ Hồng C được thể hiện như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Hồng C và ông Nguyễn Vũ L sau thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân vào năm 2014. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 07/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện D, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu sau khi kết hôn, bà C và ông L chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên tranh cãi, giữa vợ chồng sống chung không còn tình cảm, không có hạnh phúc. Do không thể chung sống nên bà C và ông L sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Hiện nay, bà C thấy rằng tình trạng hôn nhân đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông L.

Về con chung: Quá trình sinh sống bà C và ông L có 02 con chung tên Nguyễn Thảo V, sinh ngày 09/8/2011 và Nguyễn Thảo M, sinh ngày 26/6/2012. Từ khi ly thân, các con chung đã sống cùng ông L nên khi ly hôn, bà C yêu cầu giao 02 con chung cho ông Nguyễn Vũ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà C không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Vũ L:

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Vũ L theo quy định. Tuy nhiên, ông L vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có ý kiến với yêu cầu khởi kiện của bà Võ Hồng C.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa được tiến hành đúng trình tự. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Nguyễn Vũ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ bằng hình thức niêm yết công khai để tham gia tố tụng nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn.

[1.2] Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung. Bị đơn là ông Nguyễn Vũ L có nơi cư trú tại Tổ B, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau từ năm 2014. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 07/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện D, tỉnh Cà Mau. Từ năm 2019, giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh mâu thuẫn và hai bên không còn sống chung. Nguyên đơn xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác...và lý do chính đáng khác. Quá trình tiến hành tố tụng bị đơn được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, được tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như được triệu tập tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án để tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, bị đơn không có nguyện vọng đoàn tụ cùng nguyên đơn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Quá trình sinh sống nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên Nguyễn Thảo V, sinh ngày 09/8/2011 và Nguyễn Thảo M, sinh ngày 26/6/2012. Theo lời trình bày của nguyên đơn, hiên nay cháu V và cháu M đang chung sống cùng bị đơn là ông L. Ý kiến của cháu V và cháu M trong quá trình tố tụng thể hiện nguyện vọng của các cháu muốn sống cùng với cha là ông Nguyễn Vũ L. Nhận thấy, việc tiếp tục giao các con chung cho bị đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của các con chung, đảm bảo được cho các con chung có sự phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần. Yêu cầu của nguyên đơn về việc giao 02 con chung tên Nguyễn Thảo V, sinh ngày 09/8/2011 và Nguyễn Thảo M, sinh ngày 26/6/2012 cho bị đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn vắng mặt, không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của nguyên đơn về việc không cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp, bị đơn có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác để tranh cấp về cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào các Điều 9, 19, 56, 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con của bà Võ Hồng C đối với ông Nguyễn Vũ L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Hồng C được ly hôn với ông Nguyễn Vũ L.

2. Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Vũ L được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Thảo V, sinh ngày 09/8/2011 và Nguyễn Thảo M, sinh ngày 26/6/2012. Bà Võ Hồng C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

II. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Võ Hồng C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005177 ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

III. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - CC THA DS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Nguyễn Minh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Hồng C yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về con chung với ông Nguyễn Vũ L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger