|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 56/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2025 Về tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Minh Đầy;
- Bà Bùi Thanh Thúy;
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Bảy kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 374/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024, về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ.
Bị đơn: Anh Võ Thanh L1, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ.
(Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qúa trình tham gia tố tụng tại Tòa án, trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh L1 do mai mối tiến tới hôn nhân có tổ chức cưới vào năm 1994, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, anh L1 nhậu nhẹt đi sớm về khuya và thường hay gây gỗ với vợ con. Ngoài ra anh L1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Nên tình cảm vợ chồng và gia đình dần dần tình cảm trở nên mờ nhạt, xa cách không thể hạnh phúc được nữa và ly thân từ năn 2024, chị L quyết định ly hôn ông L1.
Về con chung: Chị Lê Thị L xác định có 02 con chung tên Võ Lê Thùy L2 sinh ngày 16/05/1996 và Võ Lê Thúy K sinh ngày 26/11/1998 đã trường thành không, yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị L trình bày tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qúa trình tham gia tố tụng tại Tòa án, trong quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn anh Võ Thanh L1 trình bày:
Về hôn nhân: Anh L1 và chị L quen biết nhau và tiến tới hôn nhân. Sau khi cưới thì vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì do tôi đi làm công tác đảm bảo an ninh trật tự địa phương, thường đi sớm về muộn nên cũng ích khi ở nhà, chị L ghen tuông nên vợ chồng hay cải nhau rồi vợ tôi bỏ nhà về cha mẹ ruộng sống từ năm 2024 cho đến nay. Nay chị L3 xin ly hôn anh L1 đồng ý ly hôn.
Về con chung: 02 con chung tên Võ Lê Thùy L2 sinh ngày 16/05/1996 và Võ Lê Thúy K sinh ngày 26/11/1998 đã trường thành không, yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản: Tôi đang đứng tên QSD đất thửa đất không rõ số mấy, tờ bản đồ số mấy tọa lạc tại ấp T, xã T, C, tỉnh Đ, của cha mẹ tôi để lại và sau này để lại cho các con.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 15 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh L1. Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Võ Thanh L1 xác định có 02 con chung tên Võ Lê Thùy L2 sinh ngày 16/05/1996 và Võ Lê Thúy K sinh ngày 26/11/1998 đã trường thành không, yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét;
Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hôn nhân: Xét yêu cầu của chị Lê Thị L về việc yêu cầu ly hôn anh Võ Thanh L1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Chị L và anh L1 do mai mối tiến tới hôn nhân nhưng không có đăng ký kết hôn, là đã vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý..."
Tại Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. N, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. ..” .
[2.2] Chị L và anh Lâm C sống nhưng không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của anh chị không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hơn nữa, trong quá trình sống chung, thường xảy ra nhiều mâu thuẫn: Chị L cho rằng thời gian đầu chung sống vợ chồng thường hay cải vả với nhau do cả hai bất đồng quan điểm và cách sống, dần dần không còn tin tưởng quan tâm nhau như trước. Anh L1 nhậu nhẹt đi sớm về khuya và thường hay gây gỗ với vợ con. Ngoài ra anh L1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Nên tình cảm gia đình dần dần tình cảm trở nên mờ nhạt, xa cách không thể hạnh phúc được nữa nên chị L quyết định ly hôn ông L1. Nay, tình cảm không còn, chị không thể hàn gắn, tiếp tục chung sống với anh L1. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, anh L1 được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và có văn bản ý kiến trình bày là không đồng ý ly hôn chị lắng do còn thương vợ con nhưng tại phiên tòa anh L1 đồng ý cầu ly hôn. Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng mâu thuẫn giữa chị L và anh L1 trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài.
[2.3] Tại Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này..”.
[2.4] Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị L và anh L1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị L yêu cầu ly hôn với anh L1 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 14 và Khoản 2 Điều 53, Hội đồng xét xử không công nhận chị L và anh L1 là vợ chồng.
[3] Về nuôi con chung: Chị Lê Thị L và anh Võ Thanh L1 xác định có 02 con chung tên Võ Lê Thùy L2 sinh ngày 16/05/1996 và Võ Lê Thúy K sinh ngày 26/11/1998 đã trường thành không, yêu cầu tòa án giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu xem xét giải quyết;
[5] Đối với ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp quy định pháp luật, phù hợp nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị L phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, các Điều 147của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 9, 14, 15, 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị L và anh Nguyễn Thanh L4.
- Về con chung: Không xem xét giải quyết:
- Về tài sản chung, Nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo biên lai số 0013780 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C được chuyển thành án phí đã nộp xong.
Chị L, anh L4 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự (sửa đổi. bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
