|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/4/2025.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hồng Tâm và bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.
Thư ký phiên toà: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ph.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phương D, sinh năm 1997; địa chỉ: Khối phố V, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
- - Bị đơn: Anh Lê Chí C, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn S, xã P, huyện P, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 11 tháng 02 năm 2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Phương D trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Phương D và anh Lê Chí C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H vào ngày 27/12/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm trong việc nuôi dạy con cái. Đến đầu năm 2024, vợ chồng sống ly thân, chị D đưa con về nhà ngoại tại Quảng Nam sinh sống, từ đó mỗi người một cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Lê Chí C.
Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là Lê Nguyễn Hoài T, sinh ngày 25/01/2023. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu Hoài T cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung, nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:
Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao giấy khai sinh con chung; bản sao căn cước công dân; xác nhận thông tin về cư trú.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và các Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh C về việc chị D xin ly hôn và tranh chấp nuôi con. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định anh C không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã nhiều lần thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh C đều vắng mặt.
Theo biên bản xác minh ngày 10/3/2025, chính quyền địa phương và gia đình đã xác định anh Lê Chí C đăng ký thường trú tại xã P, huyện P, thành phố H. Về quan hệ hôn nhân, chị D và anh C có đăng ký kết hôn tại xã P vào năm 2022, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian đến năm 2024 thì chị D đưa con về Quảng Nam sinh sống và làm việc; hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Về con chung có 01 người con như chị D trình bày. Ủy ban nhân dân xã P đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh C nhưng không tống đạt được nên đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật.
Do không tiến hành hòa giải được và nguyên đơn có đơn đề nghị không tiếp tục hoà giải và đưa vụ án ra xét xử nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 08/4/2025, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử ban hành quyết định hoãn phiên tòa và đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn tiếp tục vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Phương D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Phương D và anh Lê Chí C có đăng ký kết hôn tại xã P, huyện P, thành phố H vào ngày 27/12/2022. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và anh Lê Chí C là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét về quá trình hôn nhân giữa nguyên đơn và anh C, Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được, sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng không hòa giải được do bị đơn vắng mặt. Điều đó chứng tỏ hôn nhân của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phương D.
[2.2] Về việc nuôi con chung: Yêu cầu của nguyên đơn xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung là cháu Lê Nguyễn Hoài T, sinh ngày 25/01/2023. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này là chính đáng, phù hợp với thực tế vì hiện nay cháu Hoài T đang do chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị D rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Chị D trình bày chị có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Phương D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Phương D.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Phương D được ly hôn anh Lê Chí C.
-
Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao người con chung là Lê Nguyễn Hoài T, sinh ngày 25/01/2023 cho chị Nguyễn Phương D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên, đủ 18 tuổi. Anh Lê Chí C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Lê Chí C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chị Nguyễn Phương D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị D đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002543 ngày 11/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Chị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Sang |
Bản án số 56/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 56/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
