Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/DS - ST

Ngày: 30/5/2025

V/v Tranh chấp nợ hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Thanh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Phước

Ông Trần Thanh Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên toà: Bà Đoàn Vũ Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 414/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tăng Nhật M, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

- Bị đơn: Ông Trần Văn T; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

(Ông Tăng Nhật M có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Trần Văn T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của ông Tăng Nhật M trình bày: Trước đây ông M có chơi nhiều chưng hụi do ông T là chủ hụi, sau khi mãn hụi thì ông T còn thiếu lại ông M tổng số tiền là 9.000.000 đồng, ông M có đến nhà ông T nhiều lần đòi nhưng ông T chỉ hứa hẹn, không chịu thực hiện việc trả nợ. Đến ngày 11/10/2020, thì ông T viết biên nhận hứa đến tháng 12/2020 thì trả ông M 5.000.000 đồng và số tiền còn lại 4.000.000 đồng hứa trả ông trong năm 2021 âm lịch. Mặc dù viết cam kết như trên nhưng ông T không thực hiện và thách thức tôi đi kiện nên ông M mới khởi kiện đòi ông T trả lại tôi số tiền trên.

Do đó, ông Tăng Nhật M khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T trả số tiền nợ hụi là 9.000.000 đồng.

2

Trong quá trình tiến hành tố tụng: Bị đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T vẫn không có mặt và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên vẫn còn vi phạm tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự về việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát; tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Nhật M, buộc ông Trần Văn T trả cho ông M số tiền 9.000.000 đồng. Ngoài ra, ông T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quan hệ tranh chấp: Ông Tăng Nhật M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn T có trách nhiệm trả tiền hụi; ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện P nên căn cứ vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
  2. Xét xử vắng mặt đương sự: Ông Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, ông Tăng Nhật M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt ông M, ông T là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Nhật M về việc yêu cầu ông Trần Văn T trả số tiền hụi còn thiếu là 9.000.000 đồng. Thấy rằng: Theo ông Minh xác Đ giữa hai bên có giao dịch hụi với nhau do ông T làm chủ hụi, đến khi mãn hụi thì ông T còn nợ lại số tiền 9.00.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện anh M có cung cấp giấy biên nhận đề ngày 11/10/2020 với nội dung “Cậu T hứa từ đây đến hét tháng 12/2020 tôi trả cho M 5.000.000, phần còn lại 4.000.000 cậu thiếu lại đến hết 2021al cậu trả đủ. Nếu cậu sai hoàng toàng toàn triệu trách nhiệm trước pháp luật”, phía dưới biên nhận có chữ ký và chữ viết tên của ông Trần Văn T. Về phía bị đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên ông T biết được việc ông M đang khởi kiện yêu cầu ông T trả lại số tiền 9.000.000 đồng nhưng không đến Tòa án, không có ý kiến trình bày. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh thì “2. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.”

Do đó, từ những nhận định và căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Nhật M. Buộc ông Trần Văn T có trách nhiệm trả cho ông M số tiền nợ hụi còn thiếu là 9.000.000 đồng.

  1. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về thủ tục tố tụng và nội dung giải quyết vụ án là đúng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
  2. Về án phí: Ông Trần Văn T phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của ông M được Tòa án chấp nhận. Ông M không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 217, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 357, 468 và Điều 471 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Tăng Nhật M
  2. Buộc ông Trần Văn T có trách nhiệm trả cho ông Tăng Nhật M số tiền còn nợ hụi là 9.000.000 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án

4

  1. Về án phí dân sự có giá ngạch: Ông Trần Văn T phải chịu 450.000 đồng; Ông Tăng Nhật M không phải chịu. Ông Tăng Nhật M dự nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0003030 ngày 09 tháng 12 năm 2024 số tiền là 300.000 đồng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - THADS huyện Phước Long;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thanh Liêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/DS - ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp nợ hụi

  • Số bản án: 56/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nợ hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đòi tiền nợ hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger