Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 56/2025/DS-ST

Ngày 25-6-2025

"V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên, bà Nguyễn Thị Thủy Khơi.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Mông Anh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2025/QÐST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần M1 (là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng TMCP V1 - V2)

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Huy M - Chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Bùi Anh V - Chuyên viên xử lý nợ, Công ty Cổ phần M1 (có mặt).

Bị đơn:

Ông Vũ Văn N, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/06/2023/GLX-VPB ngày 30 tháng 06 năm 2023 và Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V1 (V2) với Công ty TNHH M2 (Galaxy) của khách hàng vay là ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L đã ký kết với V2.

Ngày 12/07/2024 Công ty TNHH M2 (G) và Công ty Cổ phần M1 (Công ty M1) ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER và các phụ lục đính kèm của khách hàng vay là ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L đã ký kết với V2. Thông tin khoản nợ cụ thể như sau:

  • Hợp đồng cho vay số LN1804270649602 ngày 11/5/2018, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L vay vốn tại V2 số tiền 471.000.000 đồng; thời hạn cho vay: 83 tháng; mục đích vay vốn: Mua xe Chevrolet Cruze LT.
  • Hợp đồng cho vay số LD1933901286 ngày 05/12/2019, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L vay vốn tại V2 số tiền 52.000.000 đồng; thời hạn vay: Tính từ ngày tiếp theo của ngày V2 giải ngân vốn vay đầu tiên cho khách hàng đến ngày 19/11/2022; mục đích sử dụng vốn vay: Phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng.
  • Hợp đồng cho vay số LD2103000413 ngày 30/01/2021, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L vay vốn tại V2 số tiền 100.000.000 đồng; thời hạn vay: Tính từ ngày tiếp theo của ngày V2 giải ngân vốn vay đầu tiên cho khách hàng đến ngày 20/01/2024; mục đích sử dụng vốn vay: Phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng.
  • Hợp đồng cho vay số LD2202400599 ngày 24/01/2022, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L vay vốn tại V2 số tiền 32.000.000 đồng; thời hạn vay: Tính từ ngày tiếp theo của ngày V2 giải ngân vốn vay đầu tiên cho khách hàng đến ngày 20/01/2025; mục đích sử dụng vốn vay: Phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng.
  • Hợp đồng cho vay số LD2205401151 ngày 23/02/2022, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L có vay vốn tại V2 số tiền 14.300.000 đồng; thời hạn vay: Tính từ ngày tiếp theo của ngày V2 giải ngân vốn vay đầu tiên cho khách hàng đến ngày 21/02/2025; mục đích sử dụng vốn vay: Phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng.

Tài sản bảo đảm cho các Hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2018; Hợp đồng số LD1933901286 ngày 05/12/2019 và Hợp đồng số LD2103000413 ngày 30/01/2021 là: Xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze; Biển kiểm soát: 98A-178.95; Số khung: 696EJH950899; Số máy: 6D3180300025; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 033827 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 10/05/2018 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị Lệ . Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào Tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp.

Quá trình thực hiện các Hợp đồng, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 19/5/2022 nên toàn bộ các khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn.

Công ty M1 đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho Công ty M1 tuy nhiên ông N và bà L không thực hiện. Tính đến ngày 25/6/2025, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L còn nợ Công ty M1 tổng số tiền là: 595.771.886 đồng (năm trăm chín mươi năm triệu, bẩy trăm bẩy mươi mốt nghìn, tám trăm tám mươi sáu đồng).

Nay, Công ty M1 khởi kiện yêu cầu:

  1. Buộc ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L phải thanh toán trả Công ty M1 tổng số tiền tính đến ngày 25/6/2025 là 595.771.886 đồng, cụ thể dư nợ từng hợp đồng như sau:
STT SỐ HĐTD Ngày giải ngân Gốc phải trả Lãi trong hạn Lãi quá hạn Lãi chậm trả Tổng gốc + lãi
1 LN1804270649602 12/5/2018 204.275.000 1.579.091 81.903.642 14.679.268 302.437.001
2 LD2202400599 24/01/2022 29.964.644 519.893 32.153.951 5.634.275 68.272.763
3 LD1933901286 05/12/2019 13.247.901 203.646 13.628.948 3.843.871 30.924.366
4 LD2205401151 23/02/2022 13.709.757 251.058 15.989.258 2.798.446 32.748.518
5 LD2103000413 30/01/2021 66.092.958 1.780.826 77.552.572 15.962.883 161.389.239
Tổng cộng 372.290.260 4.334.514 221.228.370 42.918.743 595.771.886
  1. Kể từ ngày 26/06/2025, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L phải tiếp tục trả lãi theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày ông N và bà L thanh toán hết nợ cho Công ty M1.
  2. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty M1 thì Công ty M1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze; Biển kiểm soát: 98A-178.95; Số khung: 696EJH950899; Số máy: 6D3180300025; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 033827 do Phòng C1 Công an tỉnh B cấp ngày 10/05/2018 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L để thu hồi nợ.
  1. Trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty M1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho J cho đến khi thực tế trả hết các khoản nợ.

* Đối với bị đơn là ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L:

Tòa án đã tống đạt trực tiếp Thông báo thụ lý vụ án cho ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L (do người thân ở cùng nhà nhận thay). Đồng thời, Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc tại Nhà văn hóa thôn M3; trụ sở UBND xã Đ và tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang. Tuy nhiên hết thời hạn được ấn định, Tòa án không nhận được văn bản nêu ý kiến của ông N và bà L đối với nội dung khởi kiện của phía nguyên đơn.

Ngày 25/3/2025 Tòa án đã giao trực tiếp Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L (do ông Vũ Văn S là bố đẻ ông N ở cùng nhận thay), đồng thời niêm yết công khai các thông báo trên tại Nhà văn hóa thôn M, trụ sở UBND xã Đ và trụ sở Tòa án nhưng ông N và bà L vẫn vắng mặt không lý do.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không làm việc được với ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L nên không thu thập được lời khai của những người này.

Tòa án nhiều lần mở phiên hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được vì bị đơn vắng mặt không lý do.

Theo đơn yêu cầu của Công ty M1, ngày 16/5/2025 Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản bảo đảm cho khoản vay của ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze, biển kiểm soát: 98A-178.95. Tại buổi thẩm định, ông N và bà L vắng mặt theo giấy triệu tập, tại gia đình ông N không có chiếc xe ô tô như trên. Do vậy Tòa án không xem xét, thẩm định được đối với tài sản thế chấp.

Tại phiên toà:

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty M1 trình bày: Công ty M1 vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L phải liên đới trả số tiền 595.771.886 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Về việc xử lý tài sản đảm bảo, Công ty M1 chỉ đề nghị xử lý tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze; Biển kiểm soát: 98A-178.95; Số khung: 696EJH950899; Số máy: 6D3180300025; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 033827 do Phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 10/05/2018 là tài sản chung của ông N, bà L để thu hồi nợ cho các Hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2018; LD1933901286 ngày 05/12/2019 và LD2103000413 ngày 30/01/2021. Đối với các hợp đồng số LD2202400599 ngày 24/01/2022 và LD2205401151 ngày 23/02/2022 phát sinh ngoài thời gian hiệu lực của Hợp đồng thế chấp xe ô tô nên các khoản vay này thuộc trường hợp không có tài sản bảo đảm.

Bị đơn là ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự theo quy định. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa chấp hành đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 74, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty M1.

Buộc ông Vũ Văn N, bà Đỗ Thị L phải trả Công ty M1 số tiền nợ tạm tính đến ngày 25/6/2025 là 302.437.001 đồng, trong đó nợ gốc là 204.275.000 đồng, nợ lãi là 98.162.001 đồng theo hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2018 giữa Ngân hàng V2 và ông N - bà L.

Buộc ông Vũ Văn N phải trả Công ty M1 số tiền 293.334.885 đồng, trong đó nợ gốc là 123.015.260 đồng, nợ lãi là 170.319.625 đồng, theo các hợp đồng số LD1933901286 ngày 05/12/2019; LD2103000413 ngày 30/01/2021; LD2205401151 ngày 23/02/2022; LD2202400599 ngày 24/01/2022 giữa ngân hàng V2 với ông Vũ Văn N.

Ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi tương ứng với các khoản vay nợ theo thỏa thuận đã ký kết giữa ông N, bà L với Ngân hàng V2 cho Công ty M1 cho đến ngày ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty M1.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty M1 thì Công ty M1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, số khung 696EJH950899, số máy 6D3180300025, BKS: 98A-178.95 để thu hồi khoản nợ cho Công ty M1, theo các hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2018; LD1933901286 ngày 05/12/2019; LD2103000413 ngày 30/01/2021.

- Án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần xác minh với chính quyền địa phương và thân nhân của ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị Lệ . Kết quả xác minh xác định ông N và bà L đăng ký thường trú và vẫn sinh sống tại thôn M, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Thời gian gần đây ông N ít ở nhà, bà L đi làm công ty đến tối mới về. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông N, bà L thông qua người thân của ông bà và những người này đều cam kết giao lại tận tay cho ông N, bà L.

Đồng thời Tòa án đã niêm yết công khai tất cả các thủ tục tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập phiên tòa nhiều lần theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 31/3/2025 Tòa án ban hành Công văn số 361/TA đề nghị Công an tỉnh B cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của ông Vũ Văn N. Tại văn bản số 945/QLXNC ngày 07/4/2025 của Công an tỉnh B đã trả lời với nội dung: “Vũ Văn N, sinh ngày 19/9/1989 hiện chưa có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh”.

Như vậy, xác định ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L có biết việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án nhưng vẫn cố tình trốn tránh, giấu địa chỉ nhằm gây khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông N và bà L.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Công ty Cổ phần M1 (Công ty M1) đối với ông Vũ Văn N, bà Đỗ Thị L là "Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự" giữa pháp nhân với cá nhân. Các bên không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa án. Bị đơn là người có địa chỉ cư trú tại thôn M, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do vậy Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc xác định tư cách đương sự:

Sau khi ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị Lệ vi P nghĩa vụ trả nợ, ngày 19/5/2022 ngân hàng V2 đã chuyển toàn bộ dư nợ các khoản vay của ông Vũ Văn N, bà Đỗ Thị L sang dư nợ quá hạn. Ngày 30/6/2023 ngân hàng V2 bán toàn bộ các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L đã ký kết với V2 cho Công ty TNHH M2 (Công ty M2) theo Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/06/2023/GLX-VPB và Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V1 (V2) với Công ty M2.

Ngày 12/07/2024 Công ty M2 tiếp tục bán toàn bộ các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L đã ký kết với ngân hàng V2 cho Công ty M1 theo Hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER và các phụ lục đính kèm.

Xét thấy việc mua bán toàn bộ khoản nợ của khách hàng giữa ngân hàng V2 và Công ty M2 và giữa Công ty M2 và Công ty M1 là phù hợp quy định của pháp luật dân sự nên Công ty M1 có quyền kế thừa quyền, nghĩa vụ của ngân hàng V2 phát sinh từ các hợp đồng cho vay và các biện pháp bảo đảm kèm theo theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 365 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 4 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Việc xác định Công ty M1 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng TMCP V1 (V2) tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn là phù hợp quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Giữa Ngân hàng TMCP V1 (V2) và ông Vũ Văn N, bà Đỗ Thị L có ký 05 hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

  • Hợp đồng cho vay số LN1804270649602 ngày 11/5/2028, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L vay của V2 số tiền 471.000.000 đồng; thời hạn vay: 83 tháng, kể ngày 12/5/2018; mục đích vay: Mua xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze LT MY 18 mới 100%; lãi suất 8,4%/năm tại thời điểm vay. Hợp đồng được ký kết trực tiếp giữa ông Vũ Văn N, bà Đỗ Thị L và ngân hàng V2. Tài sản bảo đảm khoản vay chính là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Cruze nêu trên. Quá trình thực hiện hợp đồng ông N, bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ vào ngày 19/5/2022. Tính đến ngày 25/6/2025 ông N, bà L còn nợ 302.437.001 đồng (trong đó nợ gốc là 204.275.000 đồng; nợ lãi là 98.162.001 đồng).
  • Hợp đồng cho vay số LD1933901286 ngày 05/12/2019, ông Vũ Văn N vay của V2 số tiền 52.000000 đồng; thời hạn vay: 03 năm; lãi suất 22%/năm; mục đích vay để tiêu dùng; hình thức vay Online, ông Vũ Văn N là người thực hiện hợp đồng, ký hợp đồng vay (chữ ký điện tử). Vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 19/5/2022. Tính đến ngày 25/6/2025 ông Vũ Văn N còn nợ 30.924.366 đồng (trong đó nợ gốc là 13.247.901 đồng, nợ lãi là 17.676.465 đồng).
  • Hợp đồng cho vay số LD2103000413 ngày 30/01/2021, ông Vũ Văn N vay của V2 số tiền 100.000.000 đồng; thời hạn vay: 04 năm; lãi suất 24%/năm; mục đích vay tiêu dùng; hình thức vay Online, ông Vũ Văn N là người thực hiện hợp đồng, ký hợp đồng vay (chữ ký điện tử). Vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 19/5/2022. Tính đến ngày 25/6/2025 ông Vũ Văn N còn nợ 161.389.239 đồng (trong đó nợ gốc là 66.092.958 đồng, nợ lãi là 95.296.281 đồng).
  • Hợp đồng cho vay số LD2202400599 ngày 24/01/2022, ông Vũ Văn N vay của V2 số tiền 32.000.000 đồng; thời hạn vay: 03 năm; lãi suất 22%/năm; mục đích vay tiêu dùng; hình thức vay Online, ông Vũ Văn N là người thực hiện hợp đồng, ký hợp đồng vay (chữ ký điện tử). Vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 19/5/2022. Tính đến ngày 25/6/2025 ông Vũ Văn N còn nợ 68.272.763 đồng (trong đó nợ gốc là 29.964.644 đồng, nợ lãi là 38.308.119 đồng).
  • Hợp đồng cho vay số LD2205401151 ngày 23/02/2022, ông Vũ Văn N vay của V2 số tiền 14.300.000 đồng; thời hạn vay: 03 năm; lãi suất 24%/năm; mục đích vay tiêu dùng; hình thức vay Online, ông Vũ Văn N là người thực hiện hợp đồng, ký hợp đồng vay (chữ ký điện tử). Vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 19/5/2022. Tính đến ngày 25/6/2025 ông Vũ Văn N còn nợ 32.748.518 đồng (trong đó nợ gốc là 13.709.757 đồng, nợ lãi là 19.038.761 đồng).

Hội đồng xét xử xét thấy: Nội dung, hình thức các bản hợp đồng cho vay được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc ký kết hợp đồng được các bên thực hiện trên cơ sở tự nguyện, người tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đúng thẩm quyền, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên các hợp đồng này có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị Lệ vi P nghĩa vụ trả nợ mặc dù bên cho vay đã nhiều lần đôn đốc. Ngày 19/5/2022 ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Việc Công ty M1 (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ngân hàng V2) khởi kiện yêu cầu ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L phải trả nợ gốc và nợ lãi xét thấy là có căn cứ, cần được chấp nhận là phù hợp các điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuy vậy, trong 05 bản hợp đồng này chỉ có hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2028 là do ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị Lệ C thực hiện, mục đích vay tiền để mua xe ô tô sử dụng cho gia đình nên cần buộc ông N và bà L phải liên đới trả nợ đối với khoản vay này là phù hợp các Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với 04 khoản vay Online do cá nhân ông Vũ Văn N thực hiện để tiêu dùng, không có căn cứ xác định bà Đỗ Thị L được biết, đồng ý và sử dụng tiền từ các khoản vay này phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình nên cần buộc cá nhân ông Vũ Văn N phải trả nợ cho Công ty M1 đối với 04 khoản vay này là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về lãi suất cho vay: Sau khi xem xét thỏa thuận về lãi suất, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng. Xét thấy việc tính lãi của Công ty M1 là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 4 Điều 13 và Điều 25 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Việc các bên thỏa thuận về lãi suất là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải trả các khoản lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả cho Công ty M1.

Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày 26/6/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi ông Vũ Văn N, bà Đỗ Thị L thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Công ty M1.

[3] Về việc nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện:Tại đơn khởi kiện ban đầu, Công ty M1 yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ đối với cả 05 khoản vay. Nhưng tại phiên tòa nguyên đơn chỉ yêu cầu sử dụng tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ đối với 03 khoản vay (hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2018; Hợp đồng số LD1933901286 ngày 05/12/2019 và Hợp đồng số LD2103000413 ngày 30/01/2021). Còn 02 hợp đồng cho vay số LD2202400599 ngày 24/01/2022 và LD2205401151 ngày 23/02/2022 do các hợp đồng này phát sinh ngoài thời gian hiệu lực của Hợp đồng thế chấp xe ô tô nên Công ty M1 đề nghị giải quyết như đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm. Hội đồng xét xử xét thấy sự thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm tại phiên tòa là không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên yêu cầu này được chấp nhận để xem xét, giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Đánh giá về tính hợp pháp của hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:Hợp đồng thế chấp tài sản số LN1804270649602 ngày 11/5/2018 giữa ông Vũ Văn N, bà Đỗ Thị L và ngân hàng V2 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng theo đúng quy định của pháp luật quy định tại Điều 116, Điều 119 của Bộ luật Dân sự.

Tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp quy định về "Nghĩa vụ được bảo đảm và thời hạn thế chấp" thể hiện:

"Tài sản thế chấp nêu tại Điều 1 Hợp đồng này bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ - bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, tiền bồi thường thiệt hại, chi phí xử lý tài sản thế chấp (chi phí thu giữ, trông giữ, chi phí bán đấu giá, tiền phí thi hành án ...) và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác - của Bên thế chấp đối với Bên ngân hàng phát sinh từ tất cả các Hợp đồng tín dụng, văn bản tín dụng bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, các khế ước nhận nợ và các văn bản liên quan của các Hợp đồng, văn bản đó ký giữ Bên Ngân hàng và Bên thế chấp trong khoảng thời gian kể từ ngày 11/5/2018 đến ngày 11/5/2021. Trong khoảng thời gian nêu trên, Bên thế chấp có thể vay vốn, mở L1, nhận bảo lãnh và/hoặc nhận các hình thức cấp tín dụng khác từ Bên Ngân hàng làm nhiều lần, theo một hoặc nhiều Hợp đồng, văn kiện tín dụng khác nhau và tài sản thế chấp nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này bảo đảm cho tất cả các nghĩa vụ của Bên thế chấp phát sinh từ tất cả các Hợp đồng, Văn kiện tín dụng đó".

Như vậy, Hợp đồng thế chấp tài sản này được áp dụng cho các khoản vay phát sinh của ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L trong khoảng thời gian từ ngày 11/5/2018 đến ngày 11/5/2021. Đối chiếu với 05 bản hợp đồng cho vay thấy rằng các hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2018; Hợp đồng số LD1933901286 ngày 05/12/2019 và Hợp đồng số LD2103000413 ngày 30/01/2021 là những hợp đồng có tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, loại CRUZE LT, số khung 696EJH950899, số máy 6D3180300025; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 98A-178.95.

Vì ông Vũ Văn N, bà Đỗ Thị Lệ vi P nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Điều 6 Hợp đồng cho vay số LN1804270649602 và Điều 2, Điều 5, Điều 7 Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1804270649602 ngày 11/5/2018 nên Công ty M1 có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu số tiền 10.000.000 đồng là tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (theo Thông báo thu tạm ứng chi phí tố tụng số 05/TB-TA ngày 17/01/2025). Do ông Vũ Văn N vắng mặt tại địa phương, Tòa án không tiến hành thẩm định được tài sản bảo đảm nên cần trả lại tiền tạm ứng chi phi tố tụng cho Công ty M1.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cụ thể:

Đối với ông Vũ Văn N: 151.218.500 đồng (khoản vay chung) + 293.334.887 đồng (các khoản vay riêng) = 444.553.387 đồng. Án phí được tính theo công thức 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị vượt quá 400.000.000 đồng. Như vậy ông Vũ Văn N phải chịu 21.782.135 đồng (hai mươi mốt triệu, bẩy trăm tám mươi hai nghìn, một trăm ba mươi năm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Đối với bà Đỗ Thị L phải chịu án phí đối khoản vay chung 151.218.500 đồng x 5% = 7.560.925 đồng (bẩy triệu năm trăm sáu mươi nghìn, chín trăm hai mươi năm đồng). Trả lại cho Công ty M1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 295, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 365, Điều 368, Điều 429, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 74, Điều 147, Điều 177, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 99, Điều 100, Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;

Căn cứ Điều 27, Điều 37, khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M1.

1.1. Buộc ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L phải liên đới trả cho Công ty Cổ phần M1 khoản vay tại Hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2018, cụ thể tính đến ngày 25/6/2025 ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L phải trả:

  • Nợ gốc: 204.275.000 đồng;
  • Nợ lãi trong hạn: 1.579.091 đồng;
  • Nợ lãi quá hạn: 81.903.642 đồng;
  • Lãi chậm trả: 14.679.268 đồng;
  • Tổng cộng là: 302.437.001 đồng (bằng chữ: Ba trăm linh hai triệu, bốn trăm ba mươi bẩy nghìn, không trăm linh một đồng).

Trong đó số tiền ông Vũ Văn N phải trả là 151.218.500 đồng (bằng chữ: Một trăm năm mươi mốt triệu, hai trăm mười tám nghìn, năm trăm đồng); số tiền bà Đỗ Thị L phải trả là 151.218.500 đồng (bằng chữ: Một trăm năm mươi mốt triệu, hai trăm mười tám nghìn, năm trăm đồng).

1.2. Buộc ông Vũ Văn N phải trả cho Công ty Cổ phần M1 khoản vay tại các hợp đồng số LD1933901286 ngày 05/12/2019; LD2103000413 ngày 30/01/2021; LD2202400599 ngày 24/01/2022; LD2205401151 ngày 23/02/2022. cụ thể tính đến ngày 25/6/2025 ông Vũ Văn N phải trả:

  • Nợ gốc: 123.015.260 đồng;
  • Nợ lãi trong hạn: 2.755.423 đồng;
  • Nợ lãi quá hạn: 139.324.729 đồng;
  • Lãi chậm trả: 28.239.475 đồng;
  • Tổng cộng là: 293.334.887 đồng (bằng chữ: Hai trăm chín mươi ba triệu, ba trăm ba mươi tư nghìn, tám trăm tám mươi bẩy đồng).

2. Về xử lý tài sản bảo đảm:

Trường hợp ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Công ty Cổ phần M1 các khoản vay tại các Hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2018; LD1933901286 ngày 05/12/2019; LD2103000413 ngày 30/01/2021 thì Công ty Cổ phần M1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản mà vợ chồng ông N – bà L đã thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật là 01 xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET CRUZE, BKS: 98A-178.95; số khung 696EJH950899; số máy 6D3180300025; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 033827 do Phòng C2 Công an tỉnh B cấp ngày 10/5/2018.

3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

4. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ thì ông Vũ Văn N và bà Đỗ Thị L vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc, lãi còn lại cho Công ty Cổ phần M1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

5. Về chi phí tố tụng: Trả lại cho Công ty Cổ phần M1 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tạm ứng chi phí tố tụng, đã thanh toán xong với Công ty M1.

6. Về án phí:

Ông Vũ Văn N phải chịu 21.782.135 đồng (hai mươi mốt triệu, bẩy trăm tám mươi hai nghìn, một trăm ba mươi năm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Đỗ Thị L phải chịu 7.560.925 đồng (bẩy triệu năm trăm sáu mươi nghìn, chín trăm hai mươi năm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Công ty Cổ phần M1 số tiền 12.400.000 đồng (mười hai triệu, bốn trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002317 ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

7. Về quyền kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử tòa án;
  • - Đương sự,
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/DS-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 56/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần MBN Jupiter. Buộc ông Vũ Văn Nhất và bà Đỗ Thị Lệ phải liên đới trả cho Công ty Cổ phần MBN Jupiter khoản vay tại Hợp đồng số LN1804270649602 ngày 11/5/2018, cụ thể tính đến ngày 25/6/2025 ông Vũ Văn Nhất và bà Đỗ Thị Lệ phải trả: - Nợ gốc: 204.275.000 đồng; - Nợ lãi trong hạn: 1.579.091 đồng; - Nợ lãi quá hạn: 81.903.642 đồng; - Lãi chậm trả: 14.679.268 đồng; Tổng cộng là: 302.437.001 đồng (bằng chữ: Ba trăm linh hai triệu, bốn trăm ba mươi bẩy nghìn, không trăm linh một đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger