|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2025/DS-ST
Ngày: 20/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Tú Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 539/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.
Địa chỉ: A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc L – Giám đốc Phòng G – Ngân hàng TMCP Đ, Chi nhánh K; địa chỉ: Số A đường B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1982.
- Bà Huỳnh Thị Mỹ L1, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Tổ B T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng TMCP Đ và ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị Mỹ L1 đã ký 02 hợp đồng tín dụng sau:
1. Hợp đồng tín dụng số 02/2017/6915289/HĐTD ngày 15/12/2017 và Văn bản sửa đổi, bổ sung số 01/2018/6915289/SĐBS ngày 09/02/2018. Số vay là: 250.000.000ngày giải ngân: 15/12/2017.
- Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân 11%/năm. Lãi suất thả nổi điều chỉnh 6 tháng/lần bằng lãi suất tiết kiện 24 tháng trả lãi sau + 4% nhưng không thấp hơn thông báo lãi suất cho vay của Chi nhánh; lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Thời hạn trả nợ gốc: 96 tháng (trả nợ gốc theo định kỳ 6 tháng một lần 500.000 đồng từ ngày 05/06/2018 đến ngày 05/12/2024; ngày 05/6/2025 trả 1.000.000đ và ngày 15/12/2025 trả 242.000.000 đồng.
- Từ ngày giải ngân đến ngày 08/10/2023, ông M và bà L1 đã trả tiền lãi 22.035.381₫ và nợ gốc: 2.000.000₫.
Tính đến ngày 20/06/2025, ông M, bà L1 còn nợ 424.915.213 đồng. Trong đó, nợ gốc: 248.000.000 đồng, nợ lãi: 176.192.411 đồng, nợ lãi quá hạn: 722.802 đồng.
2. Hợp đồng tín dụng số 03/2017/6915289/HĐTD ngày 09/02/2018. Số tiền vay là: 250.000.000ngày giải ngân: 09/02/2018.
- Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân 11%/năm. Lãi suất thả nổi điều chỉnh 6 tháng/lần bằng lãi suất tiết kiện 24 tháng trả lãi sau + 4% nhưng không thấp hơn thông báo lãi suất cho vay của Chi nhánh; lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn.
- Thời hạn trả nợ gốc: 96 tháng (trả nợ gốc theo định kỳ 6 tháng một lần 500.000 đồng từ ngày 05/08/2018 đến ngày 05/02/2025; ngày 5/8/2025 trả 1.000.000đ và ngày 09/02/2026 trả 242.000.000 đồng.
- Từ ngày giải ngân đến ngày 08/10/2023, ông M và bà L1 đã trả tiền lãi là 17.897.181₫ và nợ gốc: 1.250.000đ.
Tính đến ngày 20/06/2025, ông M, bà L1 còn nợ 422.120.461 đồng. Trong đó, nợ gốc: 248.750.000 đồng, nợ lãi: 172.503.996 đồng, nợ lãi quá hạn: 866.465 đồng.
Tổng cộng 02 khoản vay trên tính đến hết ngày 20/06/2025 ông M, bà L1 còn nợ là: 847.035.674 đồng. Trong đó, nợ gốc: 496.750.000 đồng, nợ lãi: 348.696.407 đồng, nợ lãi quá hạn 1.589.267 đồng.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tổ C T, Phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 249493, số vào sổ cấp GCN: CH03833/22375 do UBND thành phố N cấp ngày 05/04/2016 t heo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2016/6915289/HĐBĐ ngày 28/04/2016 và Văn bản sửa đổi, bổ sung số 01/2016/6915289/SĐBS ngày 17/10/2016; Văn bản sửa đổi, bổ sung số 01/2017/6915289/SĐBS ngày 14/12/2017.
Quá thời hạn trả nợ nhưng ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị Mỹ L1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng trên nên Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị Mỹ L1 phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 20/06/2025 là 847.035.674 đồng và tiền lãi, phí cùng các chi phí phát sinh khác từ ngày 21/06/2025 đến ngày thanh toán hết toàn bộ nợ vay.
Trường hợp ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị Mỹ L1 không đến Tòa án để làm việc nên không trình bày ý kiến.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến nay đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; bị đơn có địa chỉ cư trú tại Tổ B T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Theo kết quả xác minh của Công an phường V thì bị đơn ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên nhưng đã đi khỏi địa phương và không biết địa chỉ nơi chuyển đến nên Tòa án đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung tranh chấp:
[3] Hợp đồng tín dụng số 02/2017/6915289/HĐTD ngày 15/12/2017, Văn bản sửa đổi, bổ sung số 01/2018/6915289/SĐBS ngày 09/02/2018 và Hợp đồng tín dụng số 3/2017/6915289/HĐTD ngày 09/02/2018 giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện của các bên, không trái đạo đức xã hội, mục đích và nội dung của hợp đồng phù hợp quy định tại các điều 116, 117, 119, 421 của Bộ luật Dân sự năm 2015, các điều 90, 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
[4] Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 02/2017/6915289/HĐTD ngày 15/12/2017 và Văn bản sửa đổi, bổ sung số 01/2018/6915289/SĐBS ngày 09/02/2018, người vay phải trả nợ gốc theo định kỳ 6 tháng một lần 500.000 đồng từ ngày 05/06/2018 đến ngày 05/12/2024; ngày 05/6/2025 trả 1.000.000đ và ngày 15/12/2025 trả 242.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày giải ngân đến ngày 08/10/2023, ông M và bà L1 đã trả tiền lãi 22.035.381đ và nợ gốc: 2.000.000đ.
Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 03/2017/6915289/HĐTD ngày 09/02/2018, người vay phải trả nợ gốc theo định kỳ 6 tháng một lần 500.000 đồng từ ngày 05/08/2018 đến ngày 05/08/2025; ngày 5/8/2025 trả 1.000.000đ và ngày 09/02/2026 trả 242.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày giải ngân đến ngày 08/10/2023, ông M và bà L1 đã trả tiền lãi là 17.897.181đ và nợ gốc: 1.250.000₫
Từ tháng 12/2023 đến nay, ông M và bà L1 đã ngưng việc trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng nên đã vi phạm thời hạn trả nợ quy định tại mục 7 Hợp đồng tín dụng và mục 1 Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng trên.
[5] Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thì tổng số tiền vay của 02 hợp đồng tín dụng trên là 500.000.000đ, bị đơn đã trả cho Ngân hàng 3.250.000đ. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ nợ gốc của hai hợp đồng tín dụng là 496.750.000 đồng, trong đó có khoản nợ chưa đến hạn là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 8 Điều khoản và điều kiện vay ban hành kèm theo hợp đồng tín dụng: Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn tất cả các khoản cấp tín dụng chưa thanh toán và xử lý tài sản bảo đảm của bên vay khi người vay vi phạm thời hạn thanh toán.
[6] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền lãi đối với nợ gốc trong hạn tính đến hết ngày 20/06/2025 là 348.696.407 đồng, nợ lãi quá hạn 1.589.267 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 21/06/2025 đến ngày trả hết nợ là đúng với thỏa thuận tại mục 5 của Hợp đồng tín dụng số 02/2017/6915289/HĐTD ngày 15/12/2017, Hợp đồng tín dụng số 03/2017/6915289/HĐTD ngày 09/02/2018 và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.
[7] Xét hợp đồng thế chấp, đảm bảo cho khoản vay trên, Ngân hàng TMCP Đ và ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị Mỹ L1 đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2016/6915289/HĐBĐ ngày 28/04/2016 và Văn bản sửa đổi, bổ sung số 01/2016/6915289/SĐBS ngày 17/10/2016; Văn bản sửa đổi, bổ sung số 01/2017/6915289/SĐBS ngày 14/12/2017. Theo đó, ông M, bà L1 thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 66, tờ bản đồ 58, tổ C T, Phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 249493, số vào sổ cấp GCN: CH03833/22375 do UBND thành phố N cấp ngày 05/04/2016 cho ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đã đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N theo đúng quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp và các văn bản sửa đổi, bổ sung trên có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Do đó, nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với thỏa thuận tại Điều 9 Hợp đồng thế chấp và quy định tại Điều 299, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015.
[8] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000đ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này nên bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn 3.000.000đ.
[9] Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, cụ thể: 36.000.000đ + 3% (847.035.674₫ - 800.000.000₫)= 37.411.070 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 299, 321, 322, 323, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ đối
với bị đơn ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1.
1.1 Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền (tạm tính đến ngày 20/6/2025) là: 847.035.674 đồng (tám trăm bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm bảy mươi tư đồng), trong đó, nợ gốc: 496.750.000 đồng, nợ lãi: 348.696.407 đồng, nợ lãi quá hạn 1.589.267 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 02/2017/6915289/HĐTD ngày 15/12/2017, Văn bản sửa đổi, bổ sung số 01/2018/6915289/SĐBS ngày 09/02/2018 và Hợp đồng tín dụng số 03/2017/6915289/HĐTD ngày 09/02/2018 giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị Mỹ L1.
1.2 Ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 21/06/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc theo lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
1.3 Trường hợp ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 không trả được hết số nợ trên thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 66, tờ bản đồ 58, tổ C T, Phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 249493, số vào sổ cấp GCN: CH03833/22375 do UBND thành phố N cấp ngày 05/04/2016 cho ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 để thu hồi số nợ trên.
2. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ 3.000.000đ (ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
3. Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Mỹ L1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 37.411.07 0 đồng (ba mươi bảy triệu bốn trăm mười một nghìn không trăm bảy mươi đồng).
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ 17.537.051đồng (mười bảy triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn không trăm năm mươi mốt đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001601 ngày 29/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
Qui định chung:
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Ánh Tuyết |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 56/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 56/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
