Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 56/2025/DS-ST

Ngày: 10-04-2025

V/v: Tranh chấp về quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Chí Sĩ.
  • 2. Ông Nguyễn Thanh Tâm.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 tháng 12 năm 2024 và ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 923/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 117/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 03 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ: Số B đường L tỉnh 5, Phường E, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1985; địa chỉ: Số E đường C, tổ A, ấp Đ, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại phiên toà).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963; địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ B, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại phiên toà).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ: Đường C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện theo pháp luật là ông Bùi Tấn P - chức vụ: Chủ tịch (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Đỗ Thị H ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Tuyết M trình bày như sau:

Vào năm 1998, bà Hoàng Thị D (bà nội Đỗ Thị H) được UBND huyện C, tỉnh Đồng Tháp trao quyết định thu hồi lại phần đất có tranh chấp với bà S (mẹ chồng bà Đ) trả lại. Căn cứ theo tờ Quyết định số: 631/QĐ-UB về việc: Giải quyết tranh chấp đất giữa bà Hoàng Thị D và Phạm Thị S, đất tọa lạc ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Năm 2005, ông Đỗ D1 (cha Đỗ Thị H) đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1328, bản đồ số 7, diện tích 956m² đất tọa lạc ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Tháng 8/2022, chị H làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chị H được đứng tên quyền sử dụng theo hình thức quyền thừa kế tài sản từ ông Đỗ D1.

Nay chị H có ý định sử dụng phần đất trên thì bị con bà S là bà Nguyễn Thị Đ chiếm toàn bộ đất (bà Đ có trồng cây ăn trái trên toàn bộ phần đất này) và không cho chị H được sử dụng phần đất này.

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, chị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh giải quyết các vấn đề sau đây đối với bị đơn:

  1. Yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ phải di dời tất cả các tài sản của bà Đ có trên thửa đất số 1328, bản đồ số 7, diện tích 956m² đất tọa lạc ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đỗ Thị H ngày 04/8/2022.
  2. Khôi phục lại hiện trạng ban đầu và giao trả cho chị Đỗ Thị H thửa đất số 1328, bản đồ số 7, diện tích 956m² đất tọa lạc ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của chị H trình bày việc di dời tài sản và khôi phục lại hiện trạng ban đầu là rất khó khăn và khó có thể thi hành nên chị H đồng ý giao lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp cho bị đơn bà Nguyễn Thị Đ được quyền sử dụng với diện tích đo đạc thực tế là 809,3m² được xác định trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4 theo sơ đồ đo đạc ngày 08/12/2023 của Trung tâm K xác lập, yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ phải có trách nhiệm trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho chị H theo chứng thư thẩm định giá với số tiền là 813.556.000 đồng.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ ủy quyền cho anh Nguyễn Tấn T trình bày như sau:

Về nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Phạm Thị S - mẹ của bà Nguyễn Thị Đ sử dụng từ năm 1954.

Ngày 12/9/1993, bà S đồng ý chia lại đất cho bà Hoàng Thị D, diện tích: 1.512m². Hai bên thống nhất thỏa thuận: bà D cất nhà ở. Nếu bà D không ở, định sang bán thì phải cho bà S hay để bà sang, giá tiền sang do tập thể quy định. Bà D không được trọn quyền tính giá hay sang bán tự mình. Sau đó bà D không cất nhà ở nên bà S không đồng ý chia đất như thoả thuận. Bà Phạm Thị S chỉ đồng ý chia đất cho bà D cất nhà ở vì bà D cho rằng có khó khăn về chỗ ở, thực chất bà D nói dối bà S nên bà S không đồng ý sau đó.

Ngày 17/11/1995, bà Phạm Thị S được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 3.632m². Ngày 18/12/1998, Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định số 631/QĐ-UB về việc thu hồi diện tích 1.258m² do bà Phạm Thị S đang sử dụng giao lại cho bà Hoàng Thị D. Bà S không đồng ý với Quyết định giải quyết của Ủy ban nhân dân huyện C nên khiếu nại nhưng phía bị đơn cũng không chứng minh được việc bà S có khiếu nại ở cấp hành chính tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án.

Theo khoản 3, Điều 38, Luật Đất đai năm 1993 thì đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án. Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định số 631/QĐ-UB ngày 12/8/1998 về việc giải quyết tranh chấp đất đai là không đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3, Điều 38 Luật Đất đai năm 1993. Như vậy, việc Ủy ban nhân dân huyện C giải quyết tranh chấp, giao đất cho bà D không đúng luật định. Quyết định giải quyết tranh chấp là không đúng thẩm quyền.

Do bà S có khiếu nại nên ngày 9/12/1999, Phòng Địa chính huyện C ra Phiếu hướng dẫn: căn cứ điều 38, chương II Luật Đất đai đơn thư không thuộc thẩm quyền của H1 và trả lại đơn. Bà S nộp đơn nhiều nơi nhưng không được giải quyết.

Ngày 14/01/2005, Ủy ban nhân dân xã B và cán bộ Phòng Địa chính huyện giao mốc ranh giới khu đất theo QĐ số 631 cho bà Hoàng Thị D (đã chết) ủy quyền cho con là ông Đỗ D1. Vị trí khu đất: thửa 688, tờ bản đồ số 7, tọa lạc xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nhưng không xem xét tài sản trên đất bao gồm chuồng trại, cây trồng... Sau đó thì bà S và bà Nguyễn Thị Đ tiếp tục sử dụng đất. Thửa đất mà D được giao là thửa số 688 nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đỗ D1 là thửa số 1328 là không đúng vị trí.

Từ năm 1998 đến nay bà D, ông Đỗ D1 hoàn toàn không sử dụng đất. Theo Điều 50 Luật đất đai năm 2003, quy định: hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận. Theo Điều 33 Luật Đất đai năm 2003, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp được giao đất nông nghiệp. Khi giao đất cấp cho ông D1, không trực tiếp sử dụng đất, không xem xét tài sản trên đất chuồng trại, cây trồng... Như vậy, việc giao cấp đất lần đầu cho ông Đỗ D1 không đúng.

Hơn nữa, từ khi giao đất năm 1998 đến nay, bà D, ông Đỗ D1, bà H hoàn toàn không sử dụng đất. Theo Điều 26 Luật Đất đai năm 1993, các trường hợp thu hồi đất: đất không được sử dụng trong 12 tháng liền mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho phép. Điều 64 Luật Đất đai năm 2013: các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai: đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong 12 tháng liên tục (...). Như vậy việc Ủy ban nhân dân huyện C không thu hồi đất đã giao cấp cho ông Đỗ D1 là vi phạm luật đất đai, đề nghị Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho chị Đỗ Thị H là không đúng luật định.

Nay bà Nguyễn Thị Đ không đồng ý trả lại đất cũng như giá trị quyền sử dụng đất theo yêu cầu của chị Đỗ Thị H do việc giải quyết tranh chấp đất đai không đúng thẩm quyền và việc cấp giấy chứng nhận không đúng vị trí, không đúng đối tượng, không đúng quy định của pháp luật.

Đồng thời, bà Nguyễn Thị Đ có yêu cầu phản tố như sau:

  1. Hủy Quyết định số 631/QĐ-UB ngày 18/12/1998 của UBND huyện C và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Đỗ D1 đứng tên.
  2. Đề nghị thu hồi, huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số cấp GCN: CS 10972 đã cấp ngày 04/8/2022 do bà Đỗ Thị H.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa theo thủ tục chung.

- Về việc giải quyết nội dung vụ án: Như phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nơi cư trú bị đơn và đối tượng đang tranh chấp là quyền sử dụng đất đều ở xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về sự vắng mặt của các đương sự, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Ủy ban nhân dân huyện C có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[4] Xét yêu cầu của chị Đỗ Thị H về việc đồng ý giao lại cho bà Đ được quyền sử dụng diện tích đo đạc thực tế là 809,3m² được xác định trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4 theo sơ đồ đo đạc ngày 08/12/2023 của Trung tâm K nhưng yêu cầu bà Đ phải có trách nhiệm trả lại giá trị đất cho chị H như trong chứng thư thẩm định giá với số tiền là 813.556.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận định:

[5] Phần đất tranh chấp là diện tích đất 956m² loại đất chuyên trồng lúa nước thuộc thửa đất số 1328, bản đồ số 7, đất tọa lạc ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Đỗ Thị H ngày 04/8/2022; diện tích đất đo đạc thực tế là 809,3m² được xác định trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4 theo sơ đồ đo đạc ngày 08/12/2023 do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K đã xác lập.

[6] Về việc xác định nguồn gốc đất:

[6.1] Căn cứ văn bản số 1936/UBND-HC ngày 09/9/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C thể hiện diện tích đất tranh chấp thuộc thửa số 1328, tờ bản đồ số 7, tọa lạc ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc là của bà Hoàng Thị D.

[6.2] Căn cứ Quyết định số 631/QĐ-UB ngày 12/08/1998 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc giải quyết tranh chấp đất giữa bà Hoàng Thị D và Phạm Thị S, đất tọa lạc ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cũng đã xác định diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của bà Hoàng Thị D.

[6.3] Theo Biên bản thỏa thuận phân chia đất ngày 13/9/1993 cũng đã thể hiện trước đây bà Hoàng Thị D là chủ mãnh đất mà bà Phạm Thị S đang sử dụng, vào năm 1954 bà D đi tập kết ra bắc nên đã gửi lại toàn bộ diện tích đất cho bà S quản lý.

[6.4] Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của phía nguyên đơn là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ nêu trên nên xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của bà Hoàng Thị D.

[7] Quá trình kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

[7.1] Căn cứ công văn số 1936/UBND-HC ngày 09/09/2024 và các tài liệu đính kèm đã thể hiện diện tích đất tranh chấp được cấp quyền sử dụng lần đầu vào ngày 27/11/1995 cho bà Phạm Thị S, tuy nhiên đến 22/7/1997 thì Ủy ban nhân dân huyện C căn cứ vào kết luận tại cuộc họp Hội đồng giải quyết tranh chấp ruộng đất của huyện ngày 03/7/1997 để ra Quyết định số 327/QĐ-UB về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G. 656000 cấp cho bà Phạm Thị S, lý do của việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà S là cấp sai quy định.

[7.2] Căn cứ vào Quyết định số 631/QĐ-UB ngày 18/12/1998 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà Hoàng Thị D và bà Phạm Thị S đã quyết định thu hồi diện tích 1.258m² do bà Phạm Thị S đang sử dụng để giao lại cho bà Hoàng Thị D. Đến ngày 22/9/2005 thì ông Đỗ D1 (là con của bà D) được cấp quyền sử dụng đất với diện tích 956m² thuộc thửa số 1328, tờ bản đồ số 7, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 04/8/2022, chị Đỗ Thị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bằng hình thức thừa kế từ ông Đỗ D1.

[8] Về quá trình sử dụng đất:

[8.1] Nguyên đơn cho rằng kể từ khi được bà S bàn giao đất thì phía gia đình của nguyên đơn bao gồm bà Hoàng Thị D, ông Đỗ D1 đều có sử dụng đất liên tục cho đến khi chết, sau khi ông D1 và bà D đều chết thì chị H là người được thừa kế đối với quyền sử dụng đất tranh chấp, tuy nhiên chị H ở xa và điều kiện đi lại khó khăn nên không thể tiếp tục sử dụng đất được kể từ năm 2015 đến nay. Trong khoảng thời gian chị H không sử dụng đất thì bà Đ là con của bà S đã vào sử dụng để trồng các loại cây ăn trái như X, Hồng xiêm, D2 như hiện nay, ngoài ra bà Đ còn xây dựng chuồng heo cặp đường nhựa hiện nay đã xuống cấp và không còn sử dụng với mục đích để nuôi heo. Nhận thấy lời trình bày của phía nguyên đơn là phù hợp với lời trình bày của người làm chứng là ông Nguyễn Văn Đ1, trước đây ông Đ1 là trưởng ấp D, xã B (trong giai đoạn từ năm 1989-2019) nên biết rõ nguồn gốc đất cũng như quá trình sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy lời trình bày của phía nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

[8.2] Về phía bị đơn cũng xác định phần đất tranh chấp do bà Đ sử dụng liên tục từ trước đến nay, phía nguyên đơn chưa từng sử dụng đất; đồng thời phía bị đơn cũng xuất trình văn bản ghi lời trình bày của những người làm chứng là những người có đất giáp ranh bao gồm ông Nguyễn Thanh B và bà Nguyễn Thị T1, ông B và bà T2 đều xác nhận rằng phần đất tranh chấp do phía bà Đ sử dụng từ trước đến nay và cũng không thấy phía nguyên đơn vào sử dụng đất. Hội đồng xét xử nhận thấy lời trình bày của phía bị đơn là không có căn cứ, bởi vì: phía bị đơn cho rằng có sử dụng đất liên tục từ trước đến nay chứ không phải phía nguyên đơn sử dụng nhưng phía bị đơn cũng không có gì chứng minh ngoài những lời trình bày của những người làm chứng; mặt khác, đối với lời trình bày của những người làm chứng là không khách quan vì thứ nhất giữa bà Đ và những người làm chứng đều là hàng xóm lân cận của nhau, ít nhiều cũng có mối quan hệ thân thiết hơn phía nguyên đơn, tại thời điểm Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ thì những người làm chứng đã được nguyên đơn thông báo xác định ranh đất giữa các bên nhưng họ đều cố tình không hợp tác và gây khó khăn trong quá trình đo đạc cũng như xuất sơ đồ đo đạc, theo lời trình bày của phía nguyên đơn, sau khi xem xét thẩm định tại chỗ thì nguyên đơn có đến gặp bà T1 và ông B để nhờ xác định ranh đất nhưng phía bà T1 và ông B không đồng ý ký tên nên việc xuất sơ đồ đo đạc gặp khó khăn và kéo dài thời gian hoàn thành.

[8.3] Như vậy có căn cứ xác định phần đất tranh chấp do phía gia đình nguyên đơn sử dụng liên tục từ năm 2004 đến khoảng năm 2015. Sau đó thì phần đất bỏ trống nên bà Đ vào tiếp tục sử dụng trồng cây và xây dựng chuồng heo kể từ khi phía nguyên đơn không có điều kiện để tiếp tục sử dụng cho đến nay.

[9] Về hiện trạng sử dụng đất:

[9.1] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, phần đất tranh chấp hiện do bà Đ đang sử dụng trồng một số loại cây lâu năm và còn xây dựng công trình khác trên đất.

[9.2] Phía nguyên đơn cho rằng việc bị đơn tự ý trồng cây và xây dựng công trình khác trên đất là không phù hợp. Ngoài ra, nguyên đơn còn cho rằng hiện tại cũng không có điều kiện để canh tác đất do ở xa và nguyên đơn cũng không có nhu cầu sử dụng các loại cây trồng trên đất, do đó nguyên đơn đồng ý giao lại toàn bộ diện tích đất cho bị đơn sử dụng, yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả lại giá trị đất cho nguyên đơn tương đương với giá trị đất được thể hiện trong chứng thư thẩm định giá.

[10] Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày cũng như yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[11] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ về việc: Hủy Quyết định số 631/QĐ-UB ngày 18/12/1998 của Ủy ban nhân dân huyện C và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Đỗ D1 đứng tên. Đồng thời đề nghị thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số cấp GCN: CS 10972 cấp ngày 04/8/2022 do chị Đỗ Thị H đứng tên. Hội đồng xét xử nhận định:

[12] Căn cứ vào khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993 thì đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án nhưng vào ngày 18/12/1998 thì Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà Hoàng Thị D và bà Phạm Thị S là không đúng quy định.

[13] Theo quy định tại Điều 39 của Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 36 của Luật này mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý, thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của pháp luật; đối với vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày”. Như vậy, thời hạn tối đa để khiếu nại cấp có thẩm quyền tiếp theo là 45 ngày.

[14] Đồng thời, theo Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số 10/1998/PL-UBTVQH10 ngày 25 tháng 12 năm 1998 sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, trong đó, Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau: “1. Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án trong các trường hợp sau đây: a) ... d) Thời hạn khởi kiện đã hết trước ngày Tòa án thụ lý đơn;..."

[15] Căn cứ các quy định nêu trên, bà S đã không thực hiện quyền khiếu nại cũng như quyền khởi kiện vụ án hành chính trong thời hạn luật định kể từ khi Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai số 631/QĐ-UB ngày 18/12/1998 đã nêu trên, phía người đại diện của bà Đ cho rằng thời điểm năm 1998 thì bà S liên tục khiếu nại và khởi kiện Quyết định số 631/QĐ-UB nhưng không có gì chứng minh việc bà S có khiếu nại hoặc khởi kiện.

[16] Đồng thời, trước khi Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 631/QĐ-UB ngày 18/12/1998 nêu trên thì vào ngày 12/9/1993 địa phương có tiến hành hòa giải, phía bà S thừa nhận nguồn gốc đất của bà D và cũng đồng ý cắt phần đất còn lại cho bà D để cất nhà ở, trường hợp bà D không có nhu cầu sử dụng thì bà S được ưu tiên mua theo giá thị trường, việc này cũng chứng tỏ bà S cũng đã thống nhất với Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện C và cũng đã bàn giao lại đất cho bà D được quyền sử dụng.

[17] Mặt dù Quyết định số 631/QĐ-UB ngày 18/12/1998 của Ủy ban nhân dân huyện C ban hành không đúng thẩm quyền nhưng việc hủy hay không hủy Quyết định số 631/QĐ-UB cũng đều không làm thay đổi bản chất nội dung vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc hủy Quyết định số 631/QĐ-UB ngày 18/12/1998 của Ủy ban nhân dân huyện C là không cần thiết, như vậy việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đỗ D1 cũng như chị Đỗ Thị H là phù hợp nên cần được giữ nguyên.

[18] Từ đó, Hội đồng xử xác định các yêu cầu của phía bị đơn là không có căn cứ nên không chấp nhận.

[19] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy:

[19.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Đỗ Thị H là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận. Giao cho bà Nguyễn Thị Đ diện tích đo đạc thực tế là 809,3m² (loại đất chuyển trồng lúa nước) thuộc thửa số 1328, bản đồ số 7, đất tọa lạc xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, diện tích đất được xác định trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4 theo sơ đồ đo đạc ngày 08/12/2023. Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải có trách nhiệm trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho chị H theo chứng thư thẩm định giá với tổng số tiền là 813.556.000 đồng.

[19.2] Đối với các yêu cầu của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ là không có căn cứ nên không chấp nhận.

[20] Xét lời trình bày của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử như đã nêu trên.

[21] Về án phí:

- Đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương đương với giá trị tài sản đang tranh chấp. Đối với yêu cầu của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn cũng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định. Tuy nhiên, bị đơn bà Nguyễn Thị Đ thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.

- Chị Đỗ Thị H không phải chịu án phí nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp với số tiền là 1.434.000 đồng theo biên lai số 0004645 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.

[22] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, chi phí thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản với tổng số tiền là 13.238.819 (mười ba triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn, tám trăm mười chín) đồng. Số tiền này chị Đỗ Thị H đã nộp và đã chi xong nên bà Nguyễn Thị Đ phải có trách nhiệm trả lại cho chị Đỗ Thị H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a và c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Đỗ Thị H.

- Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải có trách nhiệm trả giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với diện tích đất tranh chấp cho chị Đỗ Thị H với số tiền là 813.556.000 (tám trăm mười ba triệu, năm trăm năm mươi sáu nghìn) đồng.

- Bà Nguyễn Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đo đạc thực tế là 809,3m² loại đất chuyên trồng lúa nước thuộc thửa đất số 1328, bản đồ số 7, đất tọa lạc ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, diện tích đất được xác định trong phạm vi các mốc M1-M2-M3-M4 theo sơ đồ đo đạc ngày 08/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K.

- Chị Đỗ Thị H phải có nghĩa vụ tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị Đ thực hiện thủ tục đăng ký sang tên, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực tế mà bà Đ được quyền sử dụng. Trường hợp chị H không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thì bà Đ được quyền tự mình thực hiện.

- Về cây trồng trên đất và tài sản trên đất thì bà Nguyễn Thị Đ được quyền tiếp tục sử dụng.

(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 08/12/2023 của Trung tâm K xác lập và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ cùng ngày 08/12/2023 của Tòa án huyện Cao Lãnh).

2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ về việc Hủy Quyết định số 631/QĐ-UB ngày 18/12/1998 của Ủy ban nhân dân huyện C và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Đỗ D1 đứng tên, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số cấp GCN: CS 10972 cấp ngày 04/8/2022 do chị Đỗ Thị H đứng tên.

3. Về án phí:

- Hoàn trả lại cho chị Đỗ Thị H số tiền tạm ứng áp phí đã nộp là 1.434.000 đồng theo biên lai số 0004645 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.

- Bà Nguyễn Thị Đ thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

4 Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với tổng số tiền là 13.238.819 (mười ba triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn, tám trăm mười chín) đồng. Số tiền này chị Đỗ Thị H đã nộp tạm ứng và đã chi xong nên buộc bà Nguyễn Thị Đ phải có trách nhiệm trả lại cho chị Đỗ Thị H.

5. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CC THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Trường Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/DS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 56/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger