trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/DS-PT

Ngày 30/6/2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
  • Các Thẩm phán:
    • Ông Lê Văn Hà
    • Bà Trần Thị Hồng
  • - Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Vân, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Trần Quốc Tuấn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 23 và 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 07/2025/TLPT-DS ngày 23/01/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐ-PT ngày 21/3/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bích V; địa chỉ: A Đ, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trương Thị P; địa chỉ: A Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo Giấy ủy quyền ngày 22 tháng 4 năm 2025). Có mặt.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N; địa chỉ: D H, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  4. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc T; địa chỉ: 1 T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo Giấy ủy quyền ngày 19 tháng 02 năm 2025). Có mặt.

  5. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn trình bày: Năm 2018, chị Trần Thị Bích V1 có nhận chuyển nhượng lô đất tại tổ A (nay là tổ H), phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 610773 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 12/02/2018 đối với: thửa đất số 136, tờ bản đồ số 03, diện tích 93,3m². Diện tích đất chị nhận chuyển nhượng có tứ cận: phía Đông giáp thửa số 130, dài 05m; phía Tây giáp đường đi, dài 05m; phía Nam giáp đất bà N, dài 18,13m; phía Bắc giáp thửa đất số 137 (của chị V1), dài 19,57m.

Ngày 02/5/2023, chị V1 có xuống vị trí lô đất thì phát hiện chủ sử dụng đất liền kề là bà Nguyễn Thị N đã xây nhà lấn chiếm sang lô đất của chị V1 theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/11/2023 là 42,3m². Chị V1 đã nhiều lần yêu cầu bà N dừng ngay việc xây dựng lấn chiếm đất nhà chị V1 và yêu cầu trả lại phần đất đã lấn chiếm nhưng bà N vẫn cố tình không hợp tác.

Nay chị V1 yêu cầu giải quyết buộc bà N trả lại cho chị V1 diện tích đất đã lấn chiếm là 42,3m², có tứ cận: phía phía Đông giáp thửa số 130, dài 2,6m; phía Tây giáp đường đi, dài 1,88m; phía Nam giáp đất bà N, dài 18,43m; phía Bắc giáp thửa đất số 137 (của chị V1), dài 19,10m. Buộc bà N phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng lấn chiếm trên phần đất của chị V1.

* Bị đơn trình bày:

Ngày 11/5/2022 bà Nguyễn Thị N có nhận chuyển nhượng lô đất liền kề liên đới với căn nhà của bà N thửa đất số 08A- BA 533730 sát vách nhà ông Nguyễn Văn P1 thửa đất 08B-BA 533731 tại tổ D, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 623432 do Sở T cấp ngày 15/8/2022 đối với: thửa đất số 135, tờ bản đồ số 3, diện tích 113,4m², có tứ cận: phía Đông giáp thửa đất số 08A-BA533730, dài 5,50m; phía Tây giáp đường đi chiều ngang dài 7,70m; phía Nam giáp đường đi 2,5m thông qua lại hẻm I P; phía Bắc giáp thửa 136, dài 18,13m. Khi bà N thanh toán xong tiền thì chủ đất cũ giao đất cho bà N, có ranh giới trụ mốc rõ ràng, găng dây cắm cọc và rào thêm thép gai.

Ngày 15/3/2023, bà N xin phép Ủy ban nhân dân thành phố P xây dựng nhà ở. Xây dựng xong và bà N chuyển vào nhà ở được một thời gian thì vào khoảng tháng 8 năm 2023 bà N nhận được giấy triệu tập của Tòa án đến làm việc do có đơn của chị V1 khởi kiện cho rằng bà N xây dựng nhà lấn chiếm qua đất chị V1.

Bà N không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì từ trước đến nay đã có con đường hơn 30 năm. Khi bà N mua đất trước đó đã 01 năm đã có mốc giới rõ ràng, nguyên đơn không có ý kiến gì, khi xây dựng được Ủy ban nhân dân phường K, cấp giấy phép xây dựng. Đến khi bà N xây xong nhà thì chị V1 làm đơn khởi kiện. Đất của chị V1 thiếu là do lô đất phía dưới lấn lên nhưng chị V1 không kiện người lấn đất mà kiện bà N. Hơn nữa, đơn kiện của chị V1 không đúng địa chỉ của bà N, không đúng kích thước và vị trí đất. Như vậy chị V1 kiện người khác chứ không phải bà N. Nay bà N yêu cầu Tòa án đưa Ủy ban nhân dân thành phố P vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N có sai sót, khi không thể hiện có con đường hẻm phía Nam vừ đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngưng phiên tòa để xác minh tại Ủy ban nhân dân thành phố P là cơ quan có thẩm quyền xác định con đường hẻm phía Nam nằm trong thửa đất số 135 của bà N hay năm trong thửa đất số 34 bên cạnh.

* Tại bản án sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định: Áp dụng các Điều 163, 164,166 của Bộ luật Dấn ự năm 2015; các Điều 202, 203 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 26, 31, 220, 235, 236 của Luật Đất đai năm 2024 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2024. Căn cứ Điều 5; khoảng 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39; các Điều 70, 91, 92, 227, 228, 235, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bích V.

  1. Buộc bà Nguyễn Thị N phải trả cho chị Lê Thị Bích V quyền sử dụng diện tích 42,3m², có tử cận:
    • Phía Đông giáp thửa đất số 130, có chiều dài 2,6m;
    • Phía Tây giáp đường đi, có chiều dài 1,88m;
    • Phía Nam giáp đất bà N, có chiều dài 18,43m;
    • Phía Bắc giáp thửa đất bà V, có chiều dài 19,10m.

    Thuộc thửa đất số 136, tờ bản đồ số 3.

    Địa chỉ thửa đất: Tổ A (nay là tổ H), phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

    (Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/11/2023).

  2. Buộc bà Nguyễn Thị N phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên diện tích đất 42,3m² trả lại cho bà Lê Thị Bích V. Tài sản gồm:
    • Có một phần căn nhà có kết cấu móng xây đá, tường xây gạch, bả matic, sơn nước, nền lát gạch ceramic, sàn gác lửng bằng gỗ công nghiệp, mái lợp tôn, không có sê nô nước, trần tấm nhựa hoa văn.
    • 01 sân bê tông lát gạch ceramic, có diện tích 3,8m². Trong đó có phần diện tích 0,8m² nằm ngoài giấy chứng nhận có tứ cận như sau:
      • Phía Đông giáp thửa đất số 130, có chiều dài 2,67m;
      • Phía Tây giáp đất bà V, có chiều dài 2,66m;
      • Phía Nam giáp đất bà N, có chiều dài 0,30m;
      • Phía Bắc giáp đất bà V, có chiều dài 0,28m.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Kháng cáo: Ngày 12/12/2024, bà Nguyễn Thị N kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

* Diễn biến tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện;

Người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Kháng cáo của bị đơn đảm bảo đúng thủ tục, nội dung và nộp trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên được giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:

[2.1] Anh Hà Hoàng H là chồng chị Lê Thị Bích V (nguyên đơn). Tài sản tranh chấp với bị đơn là quyền sử dụng đất của chị V có trước khi kết hôn với anh H; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chỉ ghi tên chị V; quá trình giải quyết vụ án anh H cũng biết và cùng với chị V tham gia các phiên họp, phiên tòa sơ thẩm nhưng không có ý kiến, khiếu nại gì. Mặt khác, cấp sơ thẩm không đưa anh H vào tham gia tố tụng trong vụ án này cũng không ảnh hưởng gì đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

[2.2] Đối với kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân thành phố P vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét thấy việc giải quyết vụ án không liên quan đến quyết định cá biệt của Ủy ban nhân dân thành phố P. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân thành phố P vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng pháp luật.

[2.3] Về nội dung:

[2.3.1] Các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện, thửa đất của nguyên đơn và của bị đơn hiện nay đều có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ chủ đất cũ là ông Trần Hoàng L và bà Nguyễn Thị O. Nguyên gốc tờ bản đồ và trích lục địa chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chủ đất cũ không thể hiện đường đi giữa thửa đất số 135 và thửa đất số 34, tờ bản đồ số 03 ( tức tờ bản đồ số 04 cũ) tại tổ D (tổ A cũ), phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Hoàng L, bà Nguyễn Thị O chuyển nhượng cho ông Võ Đức L1, bà Đoàn Thị Tô H1 cũng ghi rõ tứ cận của thửa đất, trong đó phía Nam của thửa đất số 135 giáp thửa đất số 34 dài 16,4m. Cũng theo hồ sơ, ngày 11/5/2022 ông L1 và bà H1 chuyển nguyên hiện trạng diện tích đất trên cho bà N. Khi bà N kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tờ trích lục bản đồ không thể hiện có đường giáp với thửa đất số 34. Tại biên bản kiểm tra, xác minh hiện trạng, nhu cầu và điều kiện chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để sử dụng vào mục đích đất ở ngày 27/6/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P cũng xác định: phía Nam của thửa đất số 135 (của bà N) tiếp giáp với thửa đất số 34 dài 16,40m (BL 118). Kết quả xác minh của cấp sơ thẩm và các tờ bản đồ do Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P cung cấp cũng xác định: thửa đất số 135 của bà N thuộc tờ bản đồ số 03 (cũ là 04) giáp với thửa đất số 34 (thửa đất của bà S theo tờ bản đồ) từ trước đều không có con đường giữa hai thửa đất; đối với các thửa đất phía sau thửa số 135 của bà N có xây các phòng trọ thì có đường hẻm, nhưng đến thửa đất số 35 là hẻm cụt (BL số 490, 491, 492, 493). Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/11/2023 thì thửa đất số 136 của chị V hiện trạng thực tế sử dụng bị thiếu 42,3m². Thửa đất số 135 của bà N hiện trạng có diện tích thực tế sử dụng là 119,2m², thừa 5,9m² cùng với phần diện tích đất bà N chừa làm đường đi (giữa thửa đất số 135 và thửa đất số 34) là 53,7m², tổng cộng bà N đã sử dụng đất thừa 59,6m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên, đủ căn cứ để khẳng định: khi xây nhà, bà N đã tự ý chừa phần diện tích đất của mình để làm lối đi vào dãy nhà trọ dẫn đến dịch chuyển và lấn qua thửa đất số 136 (chị V) diện tích 42,3m². Do đó cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2.3.2] Tại cấp phúc thẩm, bị đơn cung cấp "Vi bằng" lập ngày 25/02/2025 của Văn phòng T1, thể hiện việc trích xuất và in sao các hình ảnh lưu trong điện thoại đối với các tờ bản đồ, trích mảnh tờ bản đồ, đồng thời cho rằng những hình ảnh này được bị đơn chụp bằng điện thoại tại bàn làm việc của cán bộ địa chính phường P. Những tài liệu này bị đơn cũng đã xuất trình trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm. Tại biên bản xác minh ngày 14/10/2024 (BL 492), đại diện Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai đã xác nhận: "Bản đồ, bản vẽ, sơ đồ do bộ phận Địa chính - xây dựng quản lý tại phòng làm việc của Địa chính xây dựng. Nếu chưa được sự thống nhất của lãnh đạo ủy ban nhân dân phường P thì không được cung cấp cho bất cứ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào. Do vậy hình ảnh sơ đồ, bản đồ, bản vẽ mà bà Nguyễn Thị N cung cấp không phải do Ủy ban nhân dân phường cung cấp cho bà N. Hiện tại Ủy ban nhân dân phường có lưu trữ tờ bản đồ địa chính khu vực này và sẽ cung cấp cho Tòa án". Do đó việc bị đơn cho rằng các hình ảnh sơ đồ, bản đồ, bản vẽ chụp lại được lưu trong điện thoại là tài liệu dùng để chứng minh giữa thửa đất số 135 với thửa đất số 34 có đường đi là không phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về việc buộc tháo dỡ một phần công trình xây dựng trên đất:

[3.1] Tại Công văn số 77/UBND-ĐCXD ngày 20/8/2024 (BL số 188), Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P xác định: quá trình bà N trình xây dựng nhà, Ủy ban nhân dân phường nhận được kiến nghị về hành vi lấn chiếm đất của bà N, nên đã đề nghị bà N tạm dừng việc xây nhà để hòa giải. Ủy ban nhân dân phường đã lập biên bản, hiện trạng nhà bà N đã xây dựng xong phần móng cao khoảng 02m nên đã yêu cầu bà N tạm dừng thi công nhưng bà N vẫn nhiều lần không chấp hành. Đồng thời qua kiểm tra, xác hiện trạng xây dựng, Ủy ban nhân dân phường X thấy hành vi của bà N xây dựng công trình nhà ở lấn chiếm đất của người khác, nên ngày 01/6/2023 Ủy ban nhân dân thành phố P đã ban hành Quyết định số 60/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đối với hành vi xây dựng của bà N, đến nay bà N vẫn chưa chấp hành.

[3.2] Bị đơn đã xây dựng nhà lấn chiếm đất của nguyên đơn với chiều rộng tiếp giáp với đường giao thông là 1,88m, chiều rộng còn lại là 3,11m nên không đủ công năng sử dụng đất và cũng không đủ diện tích để tách thửa theo quy định của pháp luật. Trong quá trình xây nhà, mặc dù chính quyền địa phương đã yêu cầu tạm dừng để giải quyết nhằm tránh thiệt hại lớn có thể xảy ra, đã ban hành Quyết định xử phạt hành chính về hành vi xây dựng nhà lấn chiếm đất của người khác, nhưng bị đơn vẫn không hợp tác, không chấp hành. Xét hành vi xây nhà lấn chiếm đất của bị đơn là cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật và nguyên tắc của cuộc sống, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn được pháp luật bảo vệ nên bị đơn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện cho các đương sự thương lượng, hòa giải nhằm tránh những thiệt hại lớn có thể xảy ra và phức tạp trong việc thi hành án, nhưng các đương sự vẫn không thỏa thuận được. Căn cứ hiện trạng sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất, lỗi của các bên tranh chấp, đồng thời cân nhắc các thiệt hại có thể xảy ra, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải tháo dỡ một phần công trình xây dựng, để trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[4] Từ những nhận định trên, Tòa án cấp phúc thẩm xét không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 144/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm để sung quỹ nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền đã tạm nộp án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 000915 ngày 19/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bà N đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THADS thành phố Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, TDS, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 56/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger