Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/DS-PT

Ngày 20/6/2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hán Hưởng và ông Nguyễn Khắc Chiên.

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 20/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo đơn kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Hữu C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị D, đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 56/2025/QĐ-PT ngày 03/6/2025. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu C, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Hà Thị H, sinh năm 1961; Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

(Các đương sự đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C1 trình bày:

Ông C1 cùng vợ là bà Hà Thị H, sinh năm 1961 có tài sản gồm:

  • Thứ nhất: Thửa đất số 107, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất: Khu A, xã S (nay là khu X, xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ, đã được UBND huyện S (nay là UBND huyện C), tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/12/2000 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C1.

Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ của ông gồm 07 nhân khẩu, gồm có:

  • Ông Nguyễn Văn C1 – là chủ hộ.
  • Bà Hà Thị H (là vợ ông) - là thành viên trong hộ.
  • Chị Nguyễn Thị H1 (con đẻ của ông và bà H), sinh năm 1981, địa chỉ: Khu X, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ – là thành viên trong hộ.
  • Anh Nguyễn Hữu C (con đẻ của ông và bà H), sinh năm 1983, địa chỉ: Khu X, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ – là thành viên trong hộ.
  • Chị Nguyễn Thị C2 (con đẻ của ông và bà H), sinh năm 1986, địa chỉ: Khu X, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ – là thành viên trong hộ.
  • Anh Nguyễn Khắc B (con đẻ của ông và bà H), sinh năm 1988, địa chỉ: Phố H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ – là thành viên trong hộ.
  • Chị Nguyễn Thị H2 (con đẻ của ông và bà H), sinh năm 1993, địa chỉ: Xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ – là thành viên trong hộ.

Nguồn gốc của thửa đất trên là năm 1991, ông nhận chuyển nhượng của ông Hoàng Văn H3, sinh năm 1957 (ông H3 đã chết năm 2007). Đến năm 2000, ông được UBND huyện S (nay là UBND huyện C), tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/12/2000 đứng tên hộ Nguyễn Văn C1.

Năm 2013 vợ chồng ông có cho anh C, chị D xây dựng nhà trên đất để ở. Quá trình sinh sống anh C, chị D có xây dựng 01 ngôi nhà 01 tầng, 01 nhà bếp, 01 mái tôn, 01 sân trước nhà.

Tại bản tự khai ngày 20 tháng 02 năm 2025 ông C1 trình bày trong quá trình xây dựng những công trình này, ông và bà H có đóng góp là 20.000 viên gạch (có giá trị là 16.000.000đ) và công sức trông coi công trình đối với việc xây dựng này. Đối với 01 chuồng gà được xây dựng sau khi xây nhà, xây bếp thì vợ chồng ông có đóng góp công sức trông coi khi xây dựng.

Đối với thửa đất này ông có quan điểm như sau: anh C và chị D đã xây nhà trên thửa đất này, do vậy ông cho vợ chồng anh chị hiện trạng diện tích đất xây nhà và bếp diện tích là 810,4m2.

Ông đề nghị anh C, chị D phải trả lại cho vợ chồng ông bà số tiền vào năm 2012 ông bà cho anh C, chị D vay là 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng) tương đương với 20.000 gạch để xây nhà, vợ chồng ông không yêu cầu lãi suất đối với số tiền trên. Tiền công sức đóng góp trông nom để xây nhà ông không yêu cầu và không đề nghị giải quyết.

Buộc anh C, chị D phải tháo dỡ, di dời đối với phần xây dựng chuồng gà và trả lại phần đất còn lại cho ông để ông chia đều cho các con.

  • Thứ hai: Thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất: Xóm C - Khu A, xã S (nay là Khu X, xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ, đã được UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/5/2007 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C3 và bà Hoàng Thị D.

Nguồn gốc của thửa đất này: Do vợ chồng ông mua từ 3 diện tích đất của 3 người là bà Sỹ T, ông C4, bà Khang L vào khoảng năm 1997 – 1998. Do thời điểm mua đất, một hộ gia đình không được đứng tên sử dụng 3 diện tích đất nên vợ chồng ông có nhờ bố đẻ ông là cụ Nguyễn Văn C5 đứng tên quyền sử dụng đất. Thời điểm đó, do ông và cụ C5 là bố con trong gia đình nên không có giấy tờ mua bán, chuyển nhượng gì, chỉ thoả thuận bằng miệng, cũng không có ai chứng kiến. Năm 2000, cụ Nguyễn Văn C5 được UBND huyện S (nay là UBND huyện C), tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25, đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C5. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000, hộ ông Nguyễn Văn C5 gồm những nhân khẩu sau:

  1. Cụ Nguyễn Văn C5 – là chủ hộ.
  2. Ông Nguyễn Văn C6, sinh năm 1974, địa chỉ: Khu X, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Tài sản trên đất gồm: 350 cây cau trồng từ năm 2019 do ông C1 trồng.

Năm 2007, cụ Nguyễn Văn C5 làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn C3 và chị Hoàng Thị D thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (được UBND xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ chứng thực ngày 04/12/2006) giữa cụ Nguyễn Văn C5 tặng cho anh Nguyễn Văn C3 và chị Hoàng Thị D có chữ ký, chữ viết của ông. Ông thừa nhận chữ ký, chữ viết trong Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này đúng là chữ ký, chữ viết của ông. Nhưng ông ký, viết chữ trong tình trạng không tỉnh táo, vì vậy ông không thừa nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này.

Ông yêu cầu Toà án huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất: Xóm C - Khu 12, (nay là Khu X, xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ, đã được UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/5/2007 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C3 và bà Hoàng Thị D.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông xin rút phần yêu cầu khởi kiện là huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 394094 cấp ngày 23/5/2007, thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25 do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Văn C3 và bà Hoàng Thị D.

[2] Bị đơn là anh Nguyễn Hữu C trình bày:

Thửa đất số 107, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất: Khu A, xã S (nay là khu X, xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ, đã được UBND huyện S (nay là UBND huyện C), tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/12/2000 đứng tên hộ Nguyễn Văn C1.

Tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà 01 tầng, 01 nhà bếp, 01 mái tôn, 01 sân trước nhà, 01 chuồng gà được xây dựng từ khoảng năm 2009 đến năm 2013 do anh và vợ anh là chị Hoàng Thị D xây dựng. Trong quá trình xây dựng những công trình này, ông C1 và bà H có đóng góp công sức là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) và cũng có công sức trông coi công trình đối với việc xây dựng này. Ngoài ra trên thửa đất này còn có 200 cây keo lá chàm do ông C1 trồng vào khoảng năm 2009 và các loại cây cối lâm lộc khác là: 01 cây ổi, 03 cây sấu, 02 cây mít, 01 cây vú sữa, 01 cây xoài, 02 cây bưởi, 01 cây sung do anh và vợ anh trồng.

Thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất: Xóm C - Khu 12, (nay là khu X, xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ, đã được UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/5/2007 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C3 và bà Hoàng Thị D. Năm 2007, ông nội anh là cụ Nguyễn Văn C5 làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh theo đúng quy định của pháp luật. Thời điểm hiện nay, trên thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25 không có tài sản gì.

Anh C3 cho rằng trong lúc sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do nhầm lẫn hoặc có sự cố ý làm sai lệch hồ sơ mà thửa đất anh đang đứng tên là thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25 là thửa đất của ông Nguyễn Văn C1, còn thửa đất số 107, tờ bản đồ số 25 đang đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C1 (mà anh đã xây nhà trên đất) là của anh. Do vậy anh không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông C1.

[3] Quan điểm của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Hà Thị H thống nhất với ông C1, đồng ý cho anh C3, chị D 810,4m² đất và tài sản trên đất, đồng ý rút yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 121a.
  • Chị Hoàng Thị D trình bày: Thửa đất mà anh chị đang ở hiện nay là thửa đất mà anh chị được ông nội (là ông Nguyễn Văn C5) tặng cho vào năm 2007. Sau đó đến năm 2013 anh chị được ông C5, ông C1 chỉ cho xây nhà và các công trình phụ tại thửa đất này. Chị cho rằng trong lúc sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do nhầm lẫn hoặc có sự cố ý làm sai lệch hồ sơ mà thửa đất anh C3 đang đứng tên là thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25 là thửa đất của ông Nguyễn Văn C1, còn thửa đất số 107, tờ bản đồ số 25 đang đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C1 (mà anh C3, chị D đã xây nhà trên đất) là của anh chị. Do vậy chị không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông C1. Tại phiên toà chị D có quan điểm đề nghị ông C1 và bà H đổi thửa đất số 107, tờ bản đồ 25 hiện tại đang đứng tên ông C1 mà anh chị đã xây nhà và đang sinh sống trên thửa đất này sang tên cho vợ chồng chị. Còn thửa đất số 121a, tờ bản đồ 25 đang đứng tên của vợ chồng chị thì chuyển sang tên cho ông Nguyễn Văn C1.
  • Các con của ông C1 (chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị C2, anh Nguyễn Khắc B, chị Nguyễn Thị H2) xác định thửa 107 là tài sản riêng của ông C1, bà H, không yêu cầu quyền lợi và từ chối tham gia tố tụng.

[4] Quá trình thu thập chứng cứ tại cấp sơ thẩm, xác định được các nội dung như sau:

4.1. Toà án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản trên phần diện tích đất tranh chấp: Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đã đo định vị, xác định hiện trạng sử dụng đất đối với:

Thửa đất số 121a, tờ bản đồ số 25, diện tích 1362,1 m2 (tăng so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 62,1m2) theo chỉ giới 6, 7, 8, 9, 10, 11, 14, 15, 16,17,18,19,6. Địa chỉ tại khu X, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Đã được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/5/2007 đứng tên anh Nguyễn Hữu C và chị Hoàng Thị D. Cụ thể: Phía đông tiếp giáp thửa đất 107 đứng tên ông Nguyễn Văn C1; Phía tây giáp thửa 121B (đất màu) do Ủy ban nhân dân xã Q; Phía nam giáp đường ngõ xóm; Phía bắc giáp thửa 106, 107 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C1. Trên thửa đất có các tài sản: 350 cây cau trồng 5 năm tuổi do ông Nguyễn Văn C1 trồng, 200 cây đinh lăng trồng 4 năm do ông Nguyễn Văn C1 trồng. Các bên đương sự đều thống nhất không đề nghị định giá và giải quyết đối với 200 cây đinh lăng.

Thửa đất số 107, tờ bản đồ số 25, diện tích 2.403,3 m2 (tăng so với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 23.3 m2), theo chỉ giới 1, 2, 3, 3A, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 1. Địa chỉ tại khu X, xã S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Đã được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/12/2000 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C1 được định giá 3.000.000đ/m2 đất ở và 350.000đ/m2 đất vườn. Trên thửa đất có những tài sản: Một nhà mái bằng 1 tầng, lợp mái tôn, sườn sắt, tường xây gạch chỉ, có sơn tường, nền lát gạch nan hoa, cửa nhôm kính, phía trước cửa gỗ được xây dựng năm 2013 được định giá 3.000.000đ/m2 x 133,9m2= 401.700.000đ; Một nhà bếp diện tích 46,3m2 lợp bờ lô xi măng (xây năm 2016) được định giá 1.200.000đ/m2 x 46,3 m2 = 55.560.000đ; 01 mái tôn diện tích 47,0 m2 được định giá 350.000đ/ m2 x 47 m2 = 16.450.000đ; 01 cổng mái tôn, sườn sắt, cột xây gạch chỉ có đổ mái bằng, có diện tích 2,5m2 được định giá 4.000.000đ/m2 x 2,5m2 = 10.000.000đ; tường rào xây gạch xi măng cao 1,6 m được định giá 100.000đ/m x 1,6m = 160.000đ;

Các loại cây lâm lộc trên đất gồm có:

  • 200 cây keo được định giá 30.000đ/cây x 200 cây = 6.000.000₫
  • 01 cây ổi đường kính thân 7 cm được định giá 50.000₫
  • 03 cây sấu đường kính 6,5 cm được định giá tổng là 150.000đ.
  • 02 cây mít đường kính 17 cm được định giá 100.000đ/cây x 2 cây = 200.000₫
  • 01 Cây vú sữa đường kính 7,5 cm được định giá 150.000đ.
  • 01 cây xoài đường kính 20 cm được định giá 300.000₫
  • 02 cây bưởi đường kính 5 cm được định giá tổng là 100.000đ.
  • 01 cây sung đường kính 5 cm hội đồng không định giá.

Khu chuồng trại diện tích 163,9 m2 được định giá 100.000đ/m2 x 163,9m2 = 16.390.000₫

01 sân bê tông, có bó vỉa gạch chỉ diện tích 221 m2 được định giá 80.000đ/1m2 x 221 m2 = 17.680.000₫

4.2. Tại biên bản xác minh đại diện chính quyền địa phương UBND xã S (nay là xã P) cung cấp:

Về nguồn gốc thửa đất số 107, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất: khu X, xã S (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/12/2000 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C1: Từ giai đoạn 1980 – 1985 do Hợp tác xã (Ủy ban nhân dân xã) quản lý. Sau đó ông Hoàng Văn H3 có hộ khẩu thường trú ở khu X, xã S (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ ra ở tại thửa đất này, đến năm 1991 ông H3 không ở tại thửa đất này nữa và chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn C1. Ông C1 ở và sinh sống ổn định trên thửa đất này cho đến năm 2000 thì được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C1. Bố đẻ của ông C1 là ông Nguyễn Văn C5 khi còn sống ông C5 ở tại thửa đất khác (thửa đất này hiện nay do ông Nguyễn Văn C6 đang sử dụng). Ông C6 là em trai của ông C1 và là con trai út của ông C5. Đến cuối đời ông C5 mới về ở cùng ông C1 (khoảng năm 2022-2023). Có những thời điểm ông C5 về sinh sống và ở ngôi nhà 2 gian tại thửa đất mà chị D, anh C đang ở do ông C1 xây dựng.

Qua kiểm tra tại quyển số 9, thổ cư khu 12,13 sổ địa chính của UBND xã S, tại trang số 12 xác định chủ sử dụng đất là Nguyễn Văn C1. Về diện tích đất của hộ ông Nguyễn Văn C1 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 2.380m2. Sau khi đo đạc thực tế là 2.403 m2. Diện tích tăng lên là 23,3m2 là do sai số đo đạc giữa hai loại công nghệ đo đạc bản đồ địa chính.

Về nguồn gốc thửa đất số 121a, tờ bản đồ 25, địa chỉ thửa đất: Khu X, xã P, huyện C, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/5/2007 đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C3. Thửa đất này có nguồn gốc từ sự mua bán, chuyển nhượng giữa ông Nguyễn Văn C1 và hộ bà Trần Thị T1 ở khu X, xã S, hộ bà Đỗ Thị T2 (đã chết) (có 2 thửa) và hộ bà Khang L.

Qua kiểm tra tại quyển số 9 thổ cư khu A, 13 sổ địa chính của UBND xã S xác định trước kia chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn C5 (trang số 79 sổ địa chính). Trong quá trình sử dụng đất có sự thay đổi như sau: Chuyển nhượng toàn bộ diện tích cho ông Nguyễn Văn C3 theo Quyết định số 654/QĐUBND ngày 23/5/2007 đăng ký tại trang 13 quyển 13. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa người tặng cho là ông Nguyễn Văn C5 và người được tặng cho là ông Nguyễn Văn C3 và bà Hoàng Thị D được chứng thực vào ngày 04/12/2006 tại UBND xã S (nay là xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ xác định thửa đất tặng cho là thửa đất 121a, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất tại Xóm C - khu A, xã S (nay là Khu X, xã P), huyện C, tỉnh Phú Thọ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ của ông Nguyễn Văn C5 cũng thể hiện là thửa đất số 121a, tờ bản đồ 25, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/12/2000.

[5] Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ quyết định:

Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 166, Điều 188 Luật Đất đai 2013; Điều 26, khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024; Điều 26, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14:

Đình chỉ yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 121a.

Ghi nhận ông C1, bà H tự nguyện cho anh C3, chị D 810,4m² đất và tài sản trên đất thuộc thửa 107.

Chấp nhận yêu cầu của ông C1, buộc anh C3, chị D tháo dỡ chuồng gà (163,9m²), di dời các cây (1 cây ổi, 3 cây sấu, 2 cây mít, 1 cây xoài, 2 cây bưởi) và trả lại phần đất theo các điểm 3A-4-7-8-9-10-11-3A.

Ghi nhận yêu cầu trả 16.000.000 đồng được giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí: Anh C3, chị D chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Ông C1 tự nguyện chịu 11.200.000 đồng chi phí đo đạc, thẩm định, định giá.

[6] Nội dung kháng cáo:

Ngày 30/3/2025, bị đơn anh Nguyễn Hữu C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị D kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Anh C và chị D đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm công nhận toàn bộ diện tích đất mà anh chị đã xây nhà thuộc quyền sở hữu của anh chị. Không nộp tài liệu, chứng cứ bổ sung.

[7] Quan điểm của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:

Anh Nguyễn Hữu C và chị Hoàng Thị D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cho rằng thửa đất số 107, nơi anh chị xây nhà, thuộc quyền sở hữu của anh chị do nhầm lẫn trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Văn C1 và bà Hà Thị H không đồng ý với kháng cáo, giữ nguyên quan điểm như trình bày tại cấp sơ thẩm.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hữu C và chị Hoàng Thị D, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh C và chị D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Hữu C và chị Hoàng Thị D nộp ngày 30/3/2025, trong thời hạn luật định, yêu cầu xét xử lại Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 20/3/2025, thuộc thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ nên được xem xét.

[2] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Hữu C và chị Hoàng Thị D:

Anh C và chị D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị công nhận toàn bộ diện tích đất mà anh chị xây nhà (thửa 107, tờ bản đồ 25) thuộc quyền sở hữu của anh chị, cho rằng có nhầm lẫn trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Tại cấp sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê đã tiến hành thẩm định hiện trạng sử dụng đất, xác định thửa 107, diện tích 2.403,3m², đứng tên hộ ông Nguyễn Văn C1, và thửa 121a, diện tích 1.362,1m², đứng tên anh C, chị D. Nguồn gốc thửa 107 là do ông Chấp nhận chuyển nhượng từ ông Hoàng Văn H3 năm 1991, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000. Thửa 121a do ông C1 mua từ các hộ bà Trần Thị T1, bà Đỗ Thị T2, bà Khang L, sau đó chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn C5, rồi ông C5 tặng cho anh C, chị D năm 2007, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/5/2007.

Quan điểm của anh C, chị D về nhầm lẫn trong việc cấp giấy chứng nhận không có căn cứ. Các tài liệu như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C1, ông C5, anh C, chị D, biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 19/11/2006 và sổ địa chính của UBND xã P cho thấy không có sự nhầm lẫn. Anh C thừa nhận chữ ký trong biên bản kiểm tra hiện trạng thửa 121a khi cấp giấy chứng nhận cho anh chị.

Về thửa 107, ông C1 và bà H tự nguyện cho anh C, chị D 810,4m² đất và tài sản trên đất (nhà, bếp, mái tôn, sân), được xác định rõ qua chỉ giới 1-13-12-11-3A-3-2-1. Việc tặng cho này phù hợp với ý chí của ông C1, bà H, và anh C, chị D đã sử dụng ổn định hơn 10 năm. Tuy nhiên, phần đất còn lại và chuồng gà (163,9m²) cùng các cây do anh C, chị D trồng thuộc quyền sử dụng của ông C1, bà H. Yêu cầu tháo dỡ chuồng gà và trả lại phần đất theo chỉ giới 3A-4-7-8-9-10-11-3A là có căn cứ, vì đây là tài sản hợp pháp của ông C1.

Tại cấp phúc thẩm, anh C, chị D không cung cấp tài liệu, chứng cứ bổ sung để chứng minh nhầm lẫn trong việc cấp giấy chứng nhận hoặc quyền sở hữu toàn bộ thửa 107. Yêu cầu đổi thửa đất của chị D không được ông C1, bà H đồng ý và không có căn cứ pháp lý để chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ, bao gồm biên bản thẩm định hiện trạng, lời khai của đương sự, và ý kiến của UBND xã P. Quyết định chấp nhận yêu cầu của ông C1, ghi nhận việc tặng cho 810,4m² đất và buộc tháo dỡ chuồng gà, trả lại phần đất còn lại là phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ các lập luận nêu trên, kháng cáo của anh C, chị D là không có cơ sở để chấp nhận, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[3] Về chi phí thẩm định và chi phí đo diện tích hai thửa đất: Do yêu cầu kháng cáo của anh C, chị D không được chấp nhận, anh C, chị D phải chịu chi phí thẩm định, đo đạc 9.500.000 đồng, xác nhận đã nộp đủ.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Hữu C và chị Hoàng Thị D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

[5] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Hữu C và chị Hoàng Thị D.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 20/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

[2] Về chi phí thẩm định và chi phí đo diện tích hai thửa đất, do yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Hữu C và chị Hoàng Thị D không được chấp nhận, anh C, chị D phải chịu 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng), xác nhận đã nộp đủ.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Anh Nguyễn Hữu C và chị Hoàng Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003456 ngày 05/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Cẩm Khê;
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Khê;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/DS-PT ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 56/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông C và ông CH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger