Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2025/DS-PT

Ngày 13 tháng 3 năm 2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà, bà Phan Thị Minh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Trần Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 835/2024/DS-ST ngày 09/12/2024 và Quyết định sửa chữa bổ sung bản án số: 73/2024/QĐ-SCBSBA ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang bị kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Dương Văn M (tên thường gọi là Chín Đ), sinh năm 1979; nơi cư trú: Số B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1991; nơi cư trú: tổ B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

  • - Ông Nguyễn Trần Kim H1, sinh năm 1990 và bà Lê Thị Kim H2, sinh năm 1993, cùng nơi cư trú: Số A, tổ B, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
  • - Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1981 (có đơn xin vắng mặt khi giải quyết vụ án).
  • - Bà Nguyễn Thông T, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt khi giải quyết vụ án).
  • - Bà Nguyễn Thị Kiều P, sinh năm 1985 (có mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt, đơn đề ngày 04/3/2025).
  • - Cháu Nguyễn Thông T1, sinh ngày 20/8/2015 là con ruột của bà Nguyễn Thị S (bị đơn), do bà S làm người đại diện theo pháp luật.

Các đương sự cùng cư trú tại : Số H, tổ B, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn là ông Dương Văn M (Chín Đ) trình bày và yêu cầu:

Do quen biết nên ông cho bà Nguyễn Thị S vay tiền 08 lần tổng cộng 400.000.000 đồng, mức lãi suất 1,5%/tháng, mỗi lần vay bà S đều có viết tay giấy vay tiền và ký tên, không ghi mức lãi suất, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, cụ thể:

  • Lần 01: Ngày 26/02/2022 dl, vay 70.000.000 đồng, hẹn trả ngày 30/12/2022.
  • Lần 02: Ngày 19/04/2022 dl, vay 50.000.000 đồng, hẹn trả ngày 30/12/2022.
  • Lần 03 : Ngày 23/06/2022 dl, vay 80.000.000 đồng, hẹn trả ngày 30/12/2022.
  • Lần 04: Ngày 19/07/2022 dl, vay 40.000.000 đồng, hẹn trả ngày 30/12/2022.
  • Lần 05: Ngày 29/10/2022 dl, vay 50.000.000 đồng, hẹn 01 tháng trả.
  • Lần 06: Ngày 10/12/2022 dl, vay 30.000.000 đồng, hẹn 02 tháng trả.
  • Lần 07: Ngày 16/12/2022 dl, vay 40.000.000 đồng, hẹn trả ngày 20/12/2022;
  • Lần 08: Ngày 12/01/2023, vay 40.000.000 đồng, hẹn 02 tháng trả.

Sau khi vay bà S có trả tiền lãi đầy đủ, nhưng lần vay sau cùng ngày 12/01/2023 thì không trả lãi, tiền gốc trả 02 lần được 40.000.000 đồng: lần 1 ngày 19/10/2022 trả 20.000.000 đồng; lần 2 ngày 29/12/2022 trả 20.000.000 đồng, tiền nợ gốc là 360.000.000 đồng đến nay đã hết hạn, nhiều lần ông đòi nhưng bà S hứa hẹn rồi không thực hiện. Để bảo đảm cho việc thi hành án sau này, ông M yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của bà S là quyền sử dụng đất diện tích 55,6m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, thuộc thửa số 129, tờ bản đồ số 18; địa chỉ: xã H, huyện P, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS06554 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cấp ngày 12/01/2018 cho bà Nguyễn Thị S đứng tên.

Ông M nộp tiền bảo đảm 11.120.000 đồng theo Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 03/2024/QĐ-BPBĐ ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân bằng Thư Thông báo về việc phong tỏa tài khoản thông toán ngày 21/5/2024 của Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh A - Phòng giao dịch P. Tòa án ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2024/QĐ-BPKCTT ngày 21/5/2024 phong tỏa tài sản của bà S là quyền sử dụng đất diện tích 55,6m² nêu trên. Nay, ông yêu cầu bà S trả nợ gốc là 360.000.000 đồng, ông M không yêu cầu bà S trả tiền lãi, không yêu cầu bà S chịu tiền lãi chậm thi hành án, yêu cầu tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2024/QĐ-BPKCTT ngày 21/5/2024, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Trong quá trình tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị S (không có yêu cầu phản tố) trình bày:

Bà thống nhất trình nội dung bày trên của ông M là đúng, bà thừa nhận còn nợ ông M tiền vay gốc là 360.000.000 đồng, bà vay mức lãi từ 10% đến 15%/tháng, không phải 1,5%/tháng như ông M trình bày, bà đã trả tiền lãi rất nhiều, nay bà không tranh chấp về mức lãi suất đã thông tóa, hiện bà còn nợ tiền gốc 360.000.000 đồng và ông M không tính tiền lãi phát sinh và tiền lãi chậm thi hành án, nếu tiếp tục tính lãi thì mặc dù có trừ tiền lãi vượt quá quy định vào tiền gốc thì cộng chung tiền gốc và lãi phát sinh vẫn cao hơn số tiền 360.000.000 đồng.

Hiện tại hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, bà không có khả năng trả vốn 360.000.000 đồng cho ông M, nên xin ông M giảm một phần tiền gốc số tiền 190.000.000 đồng, còn lại 170.000.000 đồng tiền vốn bà sẽ lo trả cho ông M, về quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản là đất ở nông thôn diện tích 55,6m² của bà, bà không ý kiến, tùy theo quyết định của Tòa án, ngoài ra, bà không có yêu cầu khác.

Tuy nhiên, trước khi bị phong tỏa năm 2021 bà đã chuyển nhượng diện tích 55,6m² nêu trên cho vợ chồng ông Nguyễn Trần Kim H1, bà Lê Thị Kim H2, hai bên lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/4/2021 tại Phòng C2 tỉnh An Giang, giá chuyển nhượng 80.000.000 đồng, bà đã nhận đủ tiền do ông H1 và bà H2 giao, nhưng bà chưa giao đất do cho ông H1 bà H2, do gia đình chưa có chỗ ở khác nên xin ông H1, bà H2 cho thời gian khi có tiền sẽ chuộc lại đất. Trên đất có 03 cái mộ của cha mẹ, bà nội, cái miểu và căn nhà của cha mẹ để lại, ông bà em cùng sống chung trong căn nhà, gồm: ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Thông T, Nguyễn Thị Kiều P, bà Nguyễn Thị H3 và bà Nguyễn Thị S cùng cháu Nguyễn Thông T1 (con ruột bà S).

Trong quá trình tố tụng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (không có yêu cầu độc lập, yêu cầu phản tố) trình bày:

Bà Trần Thị Liên H4 (đại diện cho ông Nguyễn Trần Kim H1, bà Lê Thị Kim H2) trình bày, ngày 24/4/2021 vợ chồng ông H1, bà H2 và bà Nguyễn Thị S đến Phòng Công chứng số 2 tỉnh An Giang lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 55,6m² giá 80.000.000 đồng, ông H1 đã giao tiền cho bà S đủ, vợ chồng ông H1 và bà S có thỏa thuận bằng lời nói trong thời hạn 03 năm sẽ sang tên và giao đất, nên từ lúc lập hợp đồng chuyển nhượng đến nay bà S chưa sang tên chuyển quyền sử dụng đất và chưa giao đất cho ông H1, bà H2.

Sau đó ông H1 có gặp bà S cho chuộc lại đất đã chuyển nhượng, nhưng bà S chưa chuộc thì bị ông M kiện bà S đòi tiền vay và đất bị phong tỏa phần đất trên, việc chuyển nhượng đất trước khi bị phong tỏa, nên vợ chồng ông H1 yêu cầu ưu tiên thanh toán số tiền 80.000.000 đồng, việc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa đất diện tích 55,6m² của bà S thì ông H1, bà H2 không ý kiến và yêu cầu gì, tùy theo quyết định của Tòa án, ngoài ra bà ông H1, bà Kim H2 không có yêu cầu gì khác (ông H1, bà Kim H2 không thực hiện thủ tục khởi kiện yêu cầu độc lập, yêu cầu phản tố theo quy định).

Tại Bản tự khai ngày 24/7/2024 và quá trình giải quyết vụ án, các ông bà em ruột của bà S gồm: ông Nguyễn Minh C, bà Nguyễn Thông T, bà Nguyễn Thị Kiều P, bà Nguyễn Thị H3, cũng như tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Kiều P trình bày, các đương sự đang sống chung trong căn nhà trên đất bị phong tỏa (diện tích 55,6m²), các đương sự không tranh chấp đất bị phong tỏa trong vụ án này, thống nhất với ý kiến của bà S, chỉ xin ông M giảm một phần tiền gốc vốn vay để bà S có điều kiện lo trả nợ, ngoài ra các đương sự không yêu cầu khác; ông C, bà T và bà H3 đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ:

Công văn số 918/CNPT-ĐK ngày 17/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh P1, cho biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06554 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 12/01/2018, đất tọa lạc tại xã H thuộc tờ bản đồ số 18, thửa đất số 129, diện tích 55,6m², mục đích sử dụng đất ở nông thôn. Đối tượng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bà Nguyễn Thị S, không đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh P1.

Công văn số 2110/CNPT-ĐK ngày 25/11/2024 của Thư Thông báo về việc phong tỏa tài khoản thông toán ngày 21/5/2024 của Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh A - Phòng G.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị S phải chịu 18.000.000 đồng (bằng chữ: mười tám triệu đồng).

- Hoàn trả 9.000.000 đồng (bằng chữ: chín triệu đồng) tiền tạm ứng án phí cho ông Dương Văn M theo biên lai thu tiền số 0006950 ngày 21/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

3. Bà Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng do bà S nộp theo biên lai thu số 0011733 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Phú Tân;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Phòng TT- KT&THA tỉnh AG;
  • - THADS huyện Phú Tân;
  • - VP tòa án Tỉnh AG;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Các đương sự để thi hành.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 56/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger