|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HS-ST
Ngày: 10 – 12 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quang Dũng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Hậu Thi |
| Bà Lê Thị Trinh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Chính - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Điệp – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Quang V: Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 19/01/2004. Tại xã M, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam: Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: không: Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Chức vụ, đảng phái: Không; Bố: Nguyễn Văn H; Sinh năm: 1972; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ: Lê Thị H1; Sinh năm: 1972; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cả bố và mẹ hiện đang cư trú tại: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; A, chị, em ruột có năm người, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Nguyễn Quang V bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã X, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 15/07/2024 cho đến nay.
- Lê Doãn A; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/11/2004. Tại xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Y, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Bố: Lê Doãn C; Sinh năm: 1970, nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ: Lê Thị T; (Đã mất); Hiện nay bố đang trú tại thôn Y, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; A, chị, em ruột có năm người, bị can là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Lê Doãn A bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 21/10/2024 cho đến nay.
Những người tham gia tố tụng:
- Đại diện hợp pháp của bị hại:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt) - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Lê Doãn C, sinh năm: 1970; Nơi cư trú: Thôn Y, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
- - Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1972; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (có mặt)
- - Ông Trịnh Văn Đ, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: Khối G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
- - Ông Nguyễn Minh H2, sinh năm: 1954; Nơi cư trú: Số A đường L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
- Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quang V và Lê Doãn A là bạn học chung một lớp với nhau từ nhỏ đến nay, nên Lê Doãn A biết rõ Nguyễn Quang V (Không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định). Mặc dù biết rõ Nguyễn Quang V không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/05/2024, Lê Doãn A đã tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 có dung tích xi lanh 110 cm3 của bố là ông Lê Doãn C, sinh năm 1970, trú tại thôn Y, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh rồi giao xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 cho Nguyễn Quang V điều khiển chở A đi vào thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh để nhận bằng tốt nghiệp trung học phổ thông thì V đã đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 chở Anh ngồi sau đi từ xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh theo đường Q hướng từ Bắc vào N để vào thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Quang V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 đi đến K đường Q, thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, nơi có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên. Lúc này phía bên trái qua bên phải (Tính theo chiều xe mô tô V chạy) trên đường liên xã hướng từ UBND xã K đi UBND xã K (Đường không ưu tiên) theo hướng từ phía bên trái qua bên phải (Tính theo chiều xe mô tô V chạy) có xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49, do anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển đi qua ngã tư, đến gần hết làn đường xe thô sơ và người đi bộ bên phải của đường Q theo hướng xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 đang chạy, để về xã K. Do Nguyễn Quang V không giảm tốc độ, đi sai làn đường nên bánh trước và cánh ướm bên trái xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 do Nguyễn Quang V điều khiển đã đâm vào giảm xóc phía trước bên phải và cánh yếm bên phải xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 do anh Nguyễn Văn T3 điều khiển, làm người và xe mô tô trượt trên mặt đường. Điểm va chạm giữa hai xe xẩy ra ở trên làn đường xe thô sơ và người đi bộ bên phải (Tính theo chiều xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 chạy). Hậu quả vụ tai nạn làm anh Nguyễn Văn T3 bị chết sau khi đưa đi bệnh viện cấp cứu, xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 bị hư hỏng thiệt hại 660.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 bị hư hỏng thiệt hại 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Tại biên bản khám nghiện hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh lập hồi 10 giờ 25 phút, ngày 15/5/2024, phản ánh: Vụ tai nạn xảy ra tại Km 563 đường Q, ở ngã tư giao nhau giữa đường Q và đường liên xã U đi UBND xã K giữa xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 và xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 thuộc địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Mặt đường Quốc lộ 1A được rải bê tông bằng phẳng có tầm nhìn tốt, đường rộng 11,40m, được kẻ vạch phân chia thành bốn làn đường, hai làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,50m, hai làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ, mỗi làn rộng 2,20m. Vạch sơn kẻ giữa tâm đường màu trắng đứt quảng; vạch sơn kẻ phân chia giữa làn đường xe cơ giới với làn đường xe thô sơ và người đi bộ hai bên liền nét, màu trắng. Mặt đường liên xã UBND xã K đi UBND xã K, huyện K được rải nhựa bằng phẳng rộng 9,0m hai bên lề đường cỏ mọc. Phần đường bên phải tính theo chiều xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 chạy có 01 biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên. Phần đường bên phải tính theo chiều xe mô tô 38K1-513.49 chạy có 01 biển báo giao nhau với đường ưu tiên.
- Đánh số thứ tự vị trí các dấu vết: (1) vết cày; (2) xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49; (3) Vết máu; (4) xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82.
- Xác định mốc cố định: Lấy cột mốc Km 563 bên phải đường Q làm mốc và mép đường nhựa Quốc lộ A bên phải làm chuẩn (Tính theo hướng từ Bắc vào N), các dấu vết để lại hiện trường như sau:
Mô tả dấu vết hiện trường: Cách biển báo giao nhau với đường không ưu tiên về hướng Nam 9,6m là cột mốc Km 563. Cách biển báo giao nhau với đường không ưu tiên về hướng Nam 36,3m là điểm đầu vết cày mặt đường (1) nằm trên làn đường xe thô sơ và người đi bộ, đầu vết cày cách mép đường bên phải 0,55m kéo dài 9,4m, cuối vết cày nằm dưới bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 (4) liên quan đến tai nạn bị ngã nghiêng về phía bên phải và nằm ngay lề đường đi UBND xã K. Cách điểm đầu vết cày (1) về hướng Nam 7,0m là trục bánh sau bên phải xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 (2) liên quan đến tai nạn ngã nghiêng về phía bên phải, đầu xe hướng về xã K, đuôi xe hướng về xã K, trục bánh sau xe mô tô 38K1-513.49 cách mép đường bên phải 0,67m, trục bánh trước xe mô tô 38K1-513.49 cách mép đường bên phải 0,30m. Cách trục bánh sau xe mô tô 38K1-513.49 về hướng Nam 1,1m là vết máu (3) có kích thước 0,47mx0,14m, tâm vết máu cách mép đường bên phải 1,3m
* Kết quả khám nghiệm phương tiện phản ánh:
+ Tại biên bản khám xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 liên quan đến tai nạn phản ánh:
- Má lốp bên trái bánh trước có dấu vết mài trượt cao su, kích thước 45cmx04cm, vị trí dấu vết ngay chân van; mặt ngoài đầu mút cung trước chắn bùn bánh trước có dấu vết trượt xước, kích thước 16cmx04cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 62cm; mặt trước cánh yếm bên trái có dấu vết nứt vỡ, trượt xước và bám dính chất màu cam, kích thước 14cmx2,5cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 67cm; mặt ngoài phần đầu phía trên cánh yếm bên trái có dấu vết gãy vỡ, kích thước 23cmx10cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 77cm; phần bên trái của cung trước chắn bùn bánh trước có dấu vết gãy vỡ, trượt xước, kích thước 17cmx15cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 67cm; góc bên phải ốp tay lái phía trước có dấu vết gãy vỡ, trượt xước, bám dính chất màu nâu, kích thước 20cmx16cm, chiều hướng từ trái qua phải, tâm dấu vết cao cách mặt đất 102cm; đèn chuyển hướng phía trước bên phải có dấu vết gãy vỡ, kích thước 07cmx06cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 101cm; đầu mút tay lái bên phải có dấu vết mài trượt, kích thước 03cmx2.5cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 104cm; mặt ngoài bàn đạp phanh có dấu vết trượt xước, bám dính chất chất màu trắng, kích thước 12cmx03cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 25cm; đầu mút bàn để chân phía trước bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước 02cmx1,7cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 34cm; đầu mút bàn để chân phía sau, bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước 2,9cmx1,2cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 38cm; mặt ngoài phần bên trái ốp mặt nạ phía trước có bám dính chất màu đen, kích thước 12,5cmx02cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 84cm.
+ Tại biên bản khám xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 liên quan đến tai nạn phản ánh:
- Má lốp bên phải bánh trước có dấu vết mài trượt cao su, kích thước 06cm x 04cm, tâm dấu vết cao cách chân văn 68cm theo chiều chuyển động tiến của bánh xe; mặt ngoài ốp giảm xóc phía trước bên phải có dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen, màu cam, kích thước 07cm x 06cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, tâm dấu vết cao cách mặt đất 56cm; mặt ngoài giảm xóc phía trước bên phải có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen, màu cam, kích thước 19cm x 04cm, chiều hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, tâm dấu vết cao cách mặt đất 45cm; góc bên phải ốp tay lái phía trước có dấu vết gãy vỡ, trượt xước, kích thước 12cmx08cm, chiều hướng từ phải qua trái, tâm dấu vết cao cách mặt đất 103cm; đèn chuyển hướng phía trước bên phải có dấu vết gãy vỡ, kích thước 09cmx04cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 102cm; đầu mút tay phanh bên phải có dấu vết mài trượt, kích thước 1,3x1cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 102cm; mặt trước giá gắn gương chiếu hậu bên phải có dấu vết móp méo, trượt xước, kích thước 2,5cmx02cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 109cm; góc bên trái ốp tay lái phía sau có dấu vết nứt vỡ, kích thước 15cmx06cm; tâm dấu vết cao cách mặt đất 100cm; mặt ngoài cánh yếm bên phải có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu cam, kích thước 14cmx10cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 56cm; bàn đạp chân phía trước bên trái bị xô lệch, chiều hướng từ trước ra sau, đầu mút có dấu vết trượt xước, kích thước 03cmx02cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 29cm; phần bên phải tay nâng phía sau có dấu vết trượt xước, kích thước 12cmx04cm, chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 80cm; giá treo hàng phía trước bị xô lệch, chiều hướng từ phải sang trái; mặt ngoài ốc trục bánh phải phía trước có dấu vết bám dính chất màu đen, kích thước 1,3cmx01cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 29cm.
* Kết luận điểm va chạm:
Theo kết luận giám định số 751/KL-KTHS, ngày 29/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 và xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 có va chạm với nhau. Bánh trước và cánh yếm bên trái xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 với giảm xóc phía trước bên phải và cánh yếm bên phải xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 là vị trí va chạm. Hai phương tiện va chạm vuông góc với nhau. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 và xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 trong khu vực giao nhau đường Q (Tính theo đường Q) đoạn đi qua địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh theo chiều từ Nghệ An đi Quảng Bình.
* Kết quả khám nghiệm tử thi:
Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 15/05/2024 và Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 730/KL-KTHS ngày 22/05/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: nạn nhân là Nguyễn Văn T3, sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, các dấu vết để lại như sau: Hốc mắt phải bầm tụ máu; vùng má bên phải ngay dưới đuôi lông mày phải có vết xây xước da, kích thước 04cmx01cm; vùng đỉnh chẩm trái, cách trên đỉnh vành tai trái 04cm, cách đường chân tóc gáy 10cm có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước 08cmx07cm, trên nền bầm tụ máu có vết thương, kích thước 02cmx01cm; mặt sau vai trái cách đường giữa lưng 08cm, cách bờ vai 02cm có đám sưng nề bầm tụ máu tiết diện 08cmx06cm; vùng lưng cách trên gai chậu sau trên bên phải 03cm có nhiều vết xây xước, bầm tụ máu rải rác trên diện 16cmx10cm; mặt sau khuỷu tay trái có vết xây xước da, bầm tụ máu, kích thước 05cmx05cm; mặt sau vai phải cách đường giữa lưng 12cm, cách mõm cùng vai 01cm có vết xây xước da, kích thước 06cmx02cm; vùng bụng bên phải cách rốn 10cm, cách trên gai chậu trước trên bên phải 06cm, có vết xây xước da, kích thước 10cmx03cm; mặt trước 1/3 cẳng chân bên phải, cách bờ dưới xương bánh chè 08cm có một số vết bầm tụ máu rải rác trên diện 10cmx04cm. Nguyên nhân chết xác định chấn thương sọ não.
* Kết quả định giá thiệt hại tài sản:
Theo kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐG ngày 18/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 thiệt hại 660.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng)
Theo kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐG ngày 18/07/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 thiệt hại 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy:
- Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn lập hồi 12 giờ 01 phút ngày 15/05/2024 xác định: nồng độ cồn của Lê Doãn A tại thời điểm kiểm tra là 0,000/L khí thở.
- Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn lập hồi 11 giờ 59 phút ngày 15/05/2024 xác định: nồng độ cồn của Nguyễn Quang V tại thời điểm kiểm tra là 0,000/L khí thở.
- Tại phiếu xét nghiệm kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm ý tế huyện K vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 15/05/2024, xác định Lê Doãn A, âm tính với các chất ma túy.
- Tại phiếu xét nghiệm kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm ý tế huyện K vào hồi 20 giờ 00 phút ngày 15/05/2024, xác định Nguyễn Quang V, âm tính với các chất ma túy.
- Tại phiếu xét nghiệm kết quả về việc xác định tình trạng nồng độ cồn của Bệnh viện đa khoa tỉnh H vào hồi 13 giờ 41 phút ngày 15/05/2024, xác định nồng độ cồn trong mẫu máu thu từ tử thi ông Nguyễn Văn T3 tại thời điểm xét nghiệm cho kết quả 60.9 mg/dl (tham chiếu 50>).
* Về vật chứng: Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện K đã thu giữ xử lý vật chứng cụ thể:
- 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 37E1-677.82; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký số 054097, biển kiểm soát 37E1-677.82, thu tại hiện trường nay đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Doãn C.
- 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 38K1-513.49; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký số 037429, biển kiểm soát 38K1-513.49, thu tại hiện trường nay đã trả lại cho đại diện người bị hại là anh Nguyễn Văn T1.
* Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi vụ tai nạn xảy ra Nguyễn Quang V, Lê Doãn A đã cùng với gia đình lo chi phí mai táng cho nạn nhân Nguyễn Văn T3 và thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng). Trong đó Nguyễn Quang V bồi thường 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), Lê Doãn A bồi thường 31.000.000 đồng (Ba mươi mốt triệu đồng). Nay đại diện người bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKS-KA ngày 04/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lê Doãn A về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ ”.Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2, Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm; Hình phạt bổ sung: Không; Áp dụng điểm a khoản 1, Điều 264; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Doãn A 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ và buộc bị cáo lao động cộng đồng trong thời gian chấp hành án; Hình phạt bổ sung: Không
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù, lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lê Doãn A biết rõ Nguyễn Quang V (Không có giấy phép lái xe hợp lệ), nhưng khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/05/2024, tại thôn Y, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, Lê Doãn A đã giao xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 cho Nguyễn Quang V điều khiển chở Anh đi theo đường Q hướng từ Bắc vào N để vào thị xã K tỉnh Hà Tĩnh có việc. Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Quang V (Không có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 đi trên đường Quốc lộ 1 A hướng từ Bắc vào N, khi đến ngã tư giao nhau giữa đường Q với đường liên xã từ UBND xã K đi UBND xã K thuộc K đường Q, địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Do không giảm tốc độ khi có biển cảnh báo nguy hiểm và đi sai làn đường, nên phía trước xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 do Nguyễn Quang V điều khiển đã đâm vào phía trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 do anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển đi từ đường liên xã từ UBND xã K đi UBND xã K, khi đã đi sang đến làn đường xe thô sơ và người đi bộ bên phải đường Q. Hậu quả anh Nguyễn Văn T3 bị chết sau khi đưa đi bệnh viện cấp cứu, xe mô tô biển kiểm soát 37E1-677.82 bị hư hỏng thiệt hại 660.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), xe mô tô biển kiểm soát 38K1-513.49 bị hư hỏng thiệt hại 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Bị cáo Nguyễn Quang V có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Đối với Lê Doãn A tuy biết Nguyễn Quang V không có giấy phép lái xe, nhưng vẫn giao xe cho V điều khiển, hậu quả là tai nạn xẩy ra làm chết một người. Lê Doãn A có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của Lê Doãn A đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang V trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây búc xúc trong quần chúng nhân dân. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện cùng gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả, đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên cần áp dụng điều 65 cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ răng đe, giáo dục bị cáo.
Đối với Lê Doãn A, hành vi của A là gián tiếp gây ra vụ tai nạn. Anh nhận thức và biết rõ V không có giấy phép lái xe, nhưng vẫn giao xe cho V điều khiển. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Anh thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực chủ động cùng với V bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân, bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã nhận thức được hành vi vi phạm nên áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ là phù hợp và có căn cứ.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm”. Nhưng HĐXX nhận thấy bị cáo không có giấy phép lái xe và không có nghề nghệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. V. Đối với bị cáo Lê Doãn A Theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 36 Bộ luật hình sự quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ, thì phải khấu trừ 1 phần thu nhập hoặc thực hiện một số công việc cộng đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lê Doãn A không có việc làm, nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo A. Nhưng buộc bị cáo Lê Doãn A phả lao động cộng đồng trong thời gian chấp hành án.
[5] Về dân sự: Sau khi vụ tai nạn xảy ra Nguyễn Quang V, Lê Doãn A đã cùng với gia đình lo chi phí mai táng cho nạn nhân Nguyễn Văn T3 và thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 71.000.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu đồng). Trong đó Nguyễn Quang V bồi thường 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), Lê Doãn A bồi thường 31.000.000 đồng (Ba mươi mốt triệu đồng). Nay đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét.
[6] Về vật chứng: 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 37E1-677.82; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký số 054097, biển kiểm soát 37E1-677.82, thu tại hiện trường nay đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Doãn C là có căn cứ.
- 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 38K1-513.49; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký số 037429, biển kiểm soát 38K1-513.49, thu tại hiện trường nay đã trả lại cho đại diện bị hại là anh Nguyễn Văn T1 là có căn cứ.
[6] Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà: Hội đồng xét xử thấy rằng lời luận tội của vị Đại diện Viện kiểm sát về nội dung, điều luật áp dụng, hình phạt và mức án đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1, Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện cho gia đình người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo theo Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, Điểm a, khoản 2, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Đối với Nguyễn Quang V
Căn cứ, Điểm a, khoản 1, Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự; Đối với Lê Doãn A;
Khoản 1, điểm b, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quang V tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Bị cáo Lê Doãn A phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”,
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quang V 36 (ba sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/12/2024)
Giao Bị cáo cho UBND xã M, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Doãn A 06 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện L, tỉnh Hà Tĩnh nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Lê Doãn A cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện L để giám sát, giáo dục.
Gia đình của bị cáo Lê Doãn A có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Quang V và Lê Doãn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Dũng |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về vụ án hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Quang Vũ 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng Xử phạt Lê Doãn Anh 06 tháng cải tạo không giam giữ
