Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 04/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Uyên và ông Huỳnh Công Trí.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đình Đáng – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn L, sinh năm 1983; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn T (chết) và bà Phan Thị C, sinh năm 1954; có vợ Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1991 và 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Anh Huỳnh Minh C1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Ngô Văn H, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  2. Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  3. Đào Thị Hồng N1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Cháu Huỳnh Minh N2, sinh ngày 28/8/2010. Có người đại diện hợp pháp là bà Đào Thị Hồng N1, sinh năm 1993; mẹ cháu N2. Nơi cư trú: Thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  3. Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 09/3/2023, Nguyễn Tấn L cùng các anh Nguyễn Văn N3, Ngô Văn H, Nguyễn Hoàng V đang ngồi nhậu tại nhà anh N3 thuộc thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Thấy Huỳnh Minh C1 đi ngoài đường nên V gọi C1 vào nhậu cùng. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc nhậu, giữa Cảnh và L xảy ra mâu thuẫn, anh N3 nói C1 đi về nhưng C1 không về, C1 cầm 01 con dao Thái Lan đe dọa đòi đâm L và các anh N3, H, V. Thấy C1 cầm dao đe dọa nên N3, V, H bỏ đi vào trong nhà, L thấy vậy nên nói với anh C1 “mày vào nhà người ta mà đòi đâm người ta”, C1 cầm dao đòi đâm L, L cầm 01 miếng ván bằng gỗ bị nứt dài 93cm, dày 1,5cm đánh một cái trúng vùng đầu của C1 gây vết thương nứt sọ chẩm trái, tụ máu ngoài màng cứng, bị đánh, C1 cầm dao bỏ chạy ra ngoài đường đứng chửi L, L cầm miếng ván rượt đuổi nên C1 bỏ chạy rồi lấy 01 gốc cây khô ném về phía L nhưng không trúng, H xông lại dùng ghế nhựa định đánh nhưng thấy C1 bị té ngã úp mặt xuống đường trước cổng nhà C1, nên L kéo H lại không cho đánh C1 rồi cả hai bỏ đi về, C1 được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh P.

Kết luận giám định số 258/KLTTCT- PYPY ngày 17/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Huỳnh Minh C1 bị thương tích với tỷ lệ 26%, áp dụng phương pháp cộng lùi; do vật có cạnh tác động.

Công văn số 10/CVGĐ-PYPY ngày 20/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P: Nếu trừ vết sẹo vùng trán trái đánh giá 03%, tỷ lệ còn lại theo phương pháp cộng của Thông tư 22/2019 là 24%.

Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKSPY-P1 ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Tấn L về tội “Giết người” theo Khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Giết người”;

Về hình phạt: Áp dụng Khoản 2 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; phạt: bị cáo Nguyễn Tấn L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiện dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ghế nhựa màu đỏ cao 90cm, rộng (30x30)cm, nhãn hiệu Qui Phúc đã bị nứt vỡ; 01 (một) dao Thái Lan cán nhựa màu vàng dài 09cm, lưỡi bằng kim loại dài 12cm nhãn hiệu KiWi; 01 (một) thanh gỗ dài 93cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 10cm, hẹp nhất 05cm đã bị vỡ nham nhở; 01 (một) thanh gỗ dài 25cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 07cm, hẹp nhất 04cm bị vỡ; 01 (một) thanh gỗ dài 80cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 10cm, hẹp nhất 01cm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên toà, vắng mặt 01 người làm chứng. Nhưng xét thấy, người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, bị hại và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; vật chứng thu giữ, các bản kết luận giám định và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/3/2023, tại thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Sau khi bị Huỳnh Minh C1 dùng dao Thái Lan dọa đâm, Nguyễn Tấn L đã dùng miếng ván gỗ dài 93cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 10cm, hẹp nhất 05cm đánh trúng vùng đầu C1, gây nứt sọ vùng chẩm, C1 bỏ chạy thì bị té ngã gây vết thương vùng trán. Huỳnh Minh C1 được cấp cứu, điều trị kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng nhưng bị thương tích, tỷ lệ 26%. Nên bản Cáo trạng số 62/CT-VKSPY-P1 ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Tấn L về tội “Giết người” theo Khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn L không chỉ đe dọa đến tính mạng, xâm phạm đến sức khoẻ bị hại trái pháp luật, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an an toàn xã hội tại địa phương, nên cần xử phạt thỏa đáng. Tuy nhiên, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại số tiền 55.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt; mặt khác bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “chưa đạt”, nguyên nhân xảy ra vụ án là do bị hại gây sự, rồi cầm dao xông vào đâm bị cáo, dẫn đến bị cáo đánh gây thương tích; bản thân bị cáo đã từng tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; gia đình bị cáo có ông cố nội là liệt sĩ, ông nội có công cách mạng được tặng H1, Huy chương. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng Khoản 1 Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Nguyễn Tấn L đã bồi thường cho bị hại Huỳnh Minh C1 số tiền 55.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 (một) ghế nhựa màu đỏ cao 90cm, rộng (30x30)cm, nhãn hiệu Qui Phúc đã bị nứt vỡ; 01 (một) dao Thái Lan cán nhựa màu vàng dài 09cm, lưỡi bằng kim loại dài 12cm nhãn hiệu KiWi; 01 (một) thanh gỗ dài 93cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 10cm, hẹp nhất 05cm đã bị vỡ nham nhỡ; 01 (một) thanh gỗ dài 25cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 07cm, hẹp nhất 04cm bị vỡ; 01 (một) thanh gỗ dài 80cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 10cm, hẹp nhất 01cm; không sử dụng được và là vật trực tiếp liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vật chứng vụ án có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn L bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Ngô Văn H không tham gia cùng Nguyễn Tấn L dùng miếng ván gỗ đánh trúng đầu anh Huỳnh Minh C1. Khi anh C1 tiếp tục cầm dao đòi đánh thì bị H cùng L đuổi đánh làm anh C1 bị té ngã xuống đường bê tông gây thương tích 03% nên hành vi của H không cấu thành tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn L phạm tội “Giết người”;

  1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 2 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;
  2. Phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn L – 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  4. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ghế nhựa màu đỏ cao 90cm, rộng (30x30)cm, nhãn hiệu Qui Phúc đã bị nứt vỡ; 01 (một) dao Thái Lan cán nhựa màu vàng dài 09cm, lưỡi bằng kim loại dài 12cm nhãn hiệu KiWi; 01 (một) thanh gỗ dài 93cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 10cm, hẹp nhất 05cm đã bị vỡ nham nhỡ; 01 (một) thanh gỗ dài 25cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 07cm, hẹp nhất 04cm bị vỡ; 01 (một) thanh gỗ dài 80cm, dày 1,5cm, nơi rộng nhất 10cm, hẹp nhất 01cm.

    Vật chứng đều có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

  5. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  6. Bị cáo Nguyễn Tấn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - Tòa án nhân dân cấp cao (1);
  • - VKSND cấp cao (1);
  • - VKSND tỉnh (2);
  • - PV 06 (1);
  • - PC 01 (1);
  • - Sở tư pháp (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - P.KTNV;
  • - Lưu AV, HS;

Võ Nguyên Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về giết người

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger