1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HSST
Ngày: 19-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh An.
Ông Đặng Văn Vững.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Thị Thu Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST - HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hồng V, sinh năm: 1993.
Nơi thường trú: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Đỗ Thị L; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án – tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Tạ Trung N, sinh năm: 1997.
Nơi thường trú: 1428/2 Đường C, Phường B, Quận A, Tp .; Nơi ở hiện tại: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Hồng S và bà Lữ Nữ Thu L1; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án – tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đào Chí D, sinh năm 1988 (vắng mặt).
2
Cư trú: 155 H, Phường D, Quận A, Tp ..
Người chứng kiến:
- Huỳnh Anh T, sinh năm: 1999 (vắng mặt).
Cư trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An. - Huỳnh Thanh L2, sinh năm: 1995 (vắng mặt).
Cư trú: khu vực L, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 30/3/2024, Công an xã L, huyện C, tỉnh Long An tuần tra trên tuyến đường L thuộc ấp T, xã L thì phát hiện Trần Hồng V điều khiển xe mô tô biển số 52H6-7988 chở phía sau Tạ Trung N có biểu hiện nghi vấn, nên yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong túi quần phía trước bên phải của Trần Hồng V đang mặc có 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ và 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma tuý và phát hiện bên trong túi áo khoác, phía trước bên trái của Tạ Trung N đang mặc có 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma tuý, nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và phối hợp với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ tang vật, niêm phong các chất nghi là ma túy và gửi đi giám định.
Quá trình điều tra Trần Hồng V, Tạ Trung N khai nhận: Khoảng 21 giờ 00, ngày 30/3/2024, V đang ở nhà nghỉ T1 thuộc ấp L, xã L, V sử dụng điện thoại có gắn sim số 0944.340.xxx, gọi vào số điện thoại sim số 0971.936.xxx của N, rủ N cùng hùn tiền mua ma túy đá về sử dụng chung, cả hai thỏa thuận và thống nhất cùng nhau hùn số tiền 400.000 đồng do V ứng ra trước để mua ma túy, trong đó V hùn 300.000 đồng, N hùn 100.000 đồng và khi có tiền N sẽ trả lại V 100.000 đồng. Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 52H6-7988 (xe của anh Đào Chí Dũng cho N mượn) đi từ nhà tại Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An đến gặp V tại nhà nghỉ T1, sau đó V điều khiển xe mô tô biển số 52H6-7988 chở N từ nhà nghỉ T1 đến tại đầu đường hẻm không rõ địa chỉ thuộc xã H, huyện B, Tp . thì dừng xe lại, N ở ngoài trông coi xe, còn V đi bộ vào đường hẻm gặp một người phụ nữ không rõ họ tên, địa chỉ mua 02 (hai) túi ma túy đá với số tiền 400.000 đồng và được người phụ nữ này cho thêm 01 (một) túi ma túy đá. V cầm 03 (ba) túi ma túy ra đưa cho N 01 (một) túi cất giấu vào túi áo khoác, còn lại 02 (hai) túi ma túy V cất giấu vào túi quần. Sau đó, V điều khiển xe mô tô chở N đi tìm địa điểm sử dụng ma túy thì bị Công an
3
kiểm tra, phát hiện nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật có liên quan. Ngoài ra V khai nhận thêm từ đầu tháng 03/2024 đến giữa tháng 03/2024, V đã mua ma túy của người phụ nữ trên 02 (hai) lần, mỗi lần 01 (một) túi ma túy đá với giá 200.000 đồng đem về nhà sử dụng một mình đã hết.
Tại Bản Kết luận giám định số: 211/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:
- + Bì thư số 1: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi nylon có rãnh khép được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5836 gam, loại Methamphetamine (thu giữ của V).
- + Bì thư số 2: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1643 gam, loại Methamphetamine (thu giữ của N).
Tại Bản cáo trạng số 55/CT-VKSCG ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố hai bị cáo cùng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hai bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Trần Hồng V từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tạ Trung N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 0,2701 gam (bì thư số 1) và vỏ tất cả bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 211, 02 (hai) nỏ thủy tinh, 01 (một) bật lửa gas, 01 (một) túi vải màu đen và thẻ sim điện thoại di động mang số 0944.340.971 và số 0971.936.648.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone và 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme.
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 52H6-7988 của anh Đào Chí Dũng cho bị cáo N mượn sử dụng, không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho anh D, là phù hợp.
Hai bị cáo không có ý kiến tranh luận.
4
Hai bị cáo nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa hai bị cáo khai nhận: Vương và Nghĩa là người nghiện ma túy, nên vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 30/3/2024, V điện thoại cho N thỏa thuận và thống nhất cùng nhau hùn số tiền 400.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. Trong đó V trả tiền trước, khi nào N có tiền sẽ trả lại cho V số tiền hùn là 100.000 đồng. Sau đó V điều khiển xe mô tô biển số 52H6-7988 chở N đến đường hẻm thuộc xã H, huyện B, Tp . mua ma túy của một người phụ nữ không rõ nhân thân, được 02 (hai) túi ma túy và người phụ nữ này cho thêm 01 (một) túi. Sau khi mua ma túy, V đưa cho N 01 (một) túi ma túy cất giấu trong túi áo khoác, V cất giấu 02 (hai) túi ma túy trong túi quần. Khi cả hai tìm nơi để cùng sử dụng ma túy đến đoạn đường L, thuộc ấp T, xã L, huyện C thì bị lực lượng công an hiện bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số: 211/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi nylon có rãnh khép được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5836 gam, loại Methamphetamine (thu giữ của V) và tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1643 gam, loại Methamphetamine (thu giữ của N). Do việc hai bị cáo cùng nhau thống nhất hùn tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng, nên hai bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma túy tàng trữ là 0,7479 gam, loại Methamphetamine. Khối lượng ma túy hai bị cáo tàng trữ trên 0,1 gam đến dưới 05 gam, loại Methamphetamine, nên hành vi của hai bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét thấy đây là vụ án đồng phạm giản đơn nên không xem xét tình tiết phạm tội có tổ chức.
[3] Hành vi trái pháp luật của hai bị cáo là nguy hiểm, hai bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và
5
thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý, nhưng hai bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của hai bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý hai bị cáo bằng một hình phạt thoả đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Trong vụ án cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo khi lượng hình:
- [4.1] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: hai bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
- [4.2] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo: cả hai bị cáo phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [4.3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của hai bị cáo: tính chất, mức độ hành vi phạm tội của hai bị cáo là như nhau, cùng thống nhất ý chí, cùng đi mua ma túy sử dụng chung. Nhưng bị cáo V là người rủ rê và hùn tiền mua ma túy nhiều hơn bị cáo N. Bị cáo V là người trực tiếp liên hệ mua ma túy. Cả hai bị cáo đều có nhân thân tốt.
[5] Với những phân tích trên thì hình phạt dành cho bị cáo V phải cao hơn bị cáo N. Xét thấy cần cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo hai bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[6] Đối với đối tượng là người phụ nữ theo bị cáo V khai là đã bán ma túy, qua điều tra chưa xác minh được nhân thân và việc mua bán ma túy xảy ra trên địa bàn huyện B, Tp ., nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C có Công văn số 219/CSĐT, ngày 07/6/2024 chuyển Công an huyện B, Tp . điều tra, làm rõ xử lý theo thẩm quyền.
[7] Về tang vật thu giữ: căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, để xử lý tang vật thu giữ như sau: đối với mẫu vật giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 0,2701 gam (bì thư số 1), xét thấy là chất cấm, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với vỏ tất cả bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 211 và 02 (hai) nỏ thủy tinh, 01 (một)
6
bật lửa gas, 01 túi vải màu đen thu giữ của bị cáo V, xét thấy không có giá trị sử dụng và giá trị sử dụng thấp, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) thẻ sim diện thọai di động số 0944340971 của bị cáo V và 01 (một) thẻ sim diện thọai di động số 0971936648 thu giữ của bị cáo N, hai thẻ sim điện thoại này hai bị cáo sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi mua ma túy, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme thu giữ của bị cáo V và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone thu giữ của bị cáo N, hai điện thoại di động này hai bị cáo sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi mua ma túy, nên tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 52H6-7988, quan điều tra xác định chủ sở hữu là anh Đào Chí Dũng, anh D cho bị cáo N mượn và việc hai bị cáo sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy, anh D không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho anh D, là phù hợp
[8] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Hồng V và Tạ Trung N cùng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Trần Hồng V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/3/2024.
Tạ Trung N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/3/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam hai bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (19/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tang vật: tịch thu tiêu hủy: chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 0,2701 gam (bì thư số 1) và vỏ tất cả bao đựng mẫu được đóng
7
gói niêm phong số 211 và 02 (hai) nỏ thủy tinh, 01 (một) bật lửa gas, 01 túi vải màu đen, 01 (một) thẻ sim diện thọai di động số 0944340971 và 01 (một) thẻ sim diện thọai di động số 0971936648.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSCG, ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí: bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Giuộc, ngày 19 tháng 7 năm 2024 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 19 tháng 7 năm 2024.
Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
8
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh An.
Ông Đặng Văn Vững.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS, ngày 03/7/2024 đối với bị cáo: Trần Hồng Vương và Tạ Trung Nghĩa.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1.Về tội danh:
Bị cáo Trần Hồng Vương và Tạ Trung Nghĩa cùng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về Điều luật áp dụng:
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3. Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Trần Hồng Vương 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/3/2024.
Tạ Trung Nghĩa 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31/3/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam hai bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (19/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4. Các vấn đề khác:
Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tang vật: tịch thu tiêu hủy: chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 0,2701 gam (bì thư số 1) và vỏ tất cả bao đựng mẫu được đóng
9
gói niêm phong số 211 và 02 (hai) nỏ thủy tinh, 01 (một) bật lửa gas, 01 túi vải màu đen, 01 (một) thẻ sim diện thọai di động số 0944340971 và 01 (một) thẻ sim diện thọai di động số 0971936648.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSCG, ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí: bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 15 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TOẠ |
|
NGUYỄN THANH AN – ĐẶNG VĂN VỮNG |
NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 56/2024/HSST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hồng V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
