Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUYÊN MỘC

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày: 16 -7 -2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Đạt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Danh Tuất

Bà La Thị Thu Nga

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng -Thư ký TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Cù Hoàng Vũ-Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 50/TB-TA ngày 28/6/2024, đối với:

I. Bị cáo: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983 tại: Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: Tổ C, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H; vợ: Lục Thị P; con: 01, sinh năm 2012.

Tiền sự: 00; Tiền án.

Nhân thân: 01: Ngày 22/5/2019 bị TAND huyện Xuyên Mộc tuyên phạt 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 07/01/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024. (có mặt)

II. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Phường C, quận H, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 14/12/2022, Nguyễn Thị T2 gọi điện thoại cho Trần Thị Ny N hỏi mua ma túy đá để sử dụng, N đồng ý.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, N cùng với chồng là Trần Nguyên H1, mua của đối tượng tên P1 (chưa rõ lai lịch) 900.000 đồng ma túy để bán lại cho T2.

Khoảng 20 giờ cùng ngày NH1 mang ma túy đá đến chỗ ở của bị cáo Đ để giao cho T2. Tại đây, H1N gặp T2, Đ, Nguyễn Xuân T3Tạ Nhật L. T2, L, T3 góp tiền mua của H1 800.000 đồng ma túy. Thấy vậy, bị cáo Đ yêu cầu H1 cho sử dụng thử ma túy rồi mới mua và H1 đồng ý. Bị cáo cung cấp 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và bật lửa, còn H1 cung cấp một ít ma túy của H1N vào nỏ đốt nóng tạo khói cho H1, N, T3, Đ, L, T2 cùng sử dụng. Sử dụng thử ma tuý xong, T3, LT2 mua của H1N 800.000 đồng ma túy (T3 chuyển khoản cho L 300.000 đồng, L chuyển khoản cho H1N 800.000 đồng, trong đó trả trước một phần tiền của T2). Lâm chia số ma túy ra thành 02 phần, T3 lấy một phần đi về, phần còn lại LT2 cất giữ.

Khi T3 đi về, L, T2, H1, NĐ tiếp tục sử dụng ma túy của H1N đưa ra trước đó, đến khoảng 01 giờ ngày 15/12/2022 cả nhóm chuyển ra phòng trước sử dụng ma túy tiếp.

Khoảng 02 giờ T2 thấy ma tuý trong nỏ đã hết nên nói L cho thêm ma tuý của T2L vào nỏ để cả nhóm gồm T2, L, Đ, H1N sử dụng.

Khoảng 04 giờ hết ma tuý trong nỏ, H1 lấy ma túy đá của H1N bỏ vào nỏ để NT2 nấu lên cho T2, L, N, H1Đ tiếp tục sử dụng.

Khoảng 06 giờ ngày 15/12/2022 hết ma túy, H1N đi về. Bị cáo Đ đi thành phố Hồ Chí Minh; T2L tiếp tục ở lại chỗ ở của Đ.

Khoảng 10 giờ ngày 15/12/2022 T2 lấy phần ma tuý còn lại mua chung với L ra sử dụng cùng L tại nhà của Đ.

Khoảng 14 giờ ngày 15/12/2022, T3T2 rủ nhau cùng mua 1.500.000 đồng (mỗi người 750.000 đồng) của N, N đồng ý; đồng thời L gọi điện thoại hỏi Đ bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, và được Đ chỉ cho L chỗ lấy.

Khoảng 18 giờ ngày 15/12/2022, H1N mang 02 gói ma túy giao cho T2 tại chỗ ở của Đ, được L đứng ra nhận giúp T2T3, đồng thời chia gói ma túy này ra thành hai gói nhỏ bằng nhau và đưa lại cho T2 cất giấu. Gói ma túy còn lại H1 dùng nỏ và bật lửa do L đưa nếu lên để N, H1, L, T2 cùng sử dụng. Trong lúc cả nhòm đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an phát hiện, T2 đã giao nộp gói ma túy dưới sàn nhà và 02 ma túy mua chung với T3 đang cất giấu.

Nguyễn Văn Đ khai nhận đã cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, bật lửa và đồng ý cho H1, N, T2, L, T3 sử dụng ma túy tại chỗ ở của mình.

Kết luận giám định số 13/KL-KTHS-MT ngày 23/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự-CA tỉnh B kết luận:

Mẫu kết tinh không màu-trong suốt chứa trong 03 gói nylon hàn kín là ma túy loại Methaphetamine có tổng khối lượng là 1,9784 gam và trọng lượng lần lượt là 0,4752 gam, 0,8347 gam, 0,6685 gam.

Vật chứng: Toàn bộ vật chứng đã được xử lý theo Bản án số 78/2023/HSST ngày 30/8/2023 của TAND huyện Xuyên Mộc xét xử đối với bị cáo: Trần Nguyễn H2, Trần Thị Ny N, Nguyễn Thị T2, Tạ Nhật L, Nguyễn Xuân T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất may túy”.

Cáo trạng số 43/CT-VKSXM ngày 17/5/2024, VKSND huyện Xuyên Mộc đã truy tố: Nguyễn Văn Đ về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Kiểm sát viên VKSND huyện Xuyên Mộc sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38, Điều 50 BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 08 (T) năm 06 (Sáu) tháng đến 09 (C) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

-Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng VKSND huyện Xuyên Mộc truy tố; khi nói lời sau cùng bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng số 43/CT-VKSXM ngày 17/5/2024 của VKSND huyện Xuyên Mộc đã truy tố. Như vậy có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 20 giờ ngày 14/12/2022, tại chỗ ở của bị cáo Nguyễn Văn Đ, bị cáo đã cung cấp 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và bật lửa, còn Trần Nguyên H1, Nguyễn Xuân T3, Tạ Nhật L cung cấp ma túy để Đ, H1, N, Nguyễn Thị T2, T3L cùng sử dụng nhiều lần (Riêng T3 sử dụng 01 lần rồi ra về); đến khoảng 06 giờ ngày 15/12/2022 bị cáo Đ đi thành phố Hồ Chí Minh. Các bị cáo khác tiếp tục ở lại chỗ ở của bị cáo để sử dụng ma túy.

Khoảng 14 giờ ngày 15/12/2022, L gọi điện thoại hỏi bị cáo Đức bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và bị cáo Đ chỉ cho L chỗ cho lấy. Lấy xong H1 cùng N, L, T2 cùng sử dụng ma túy tại chỗ ở của bị cáo.

Việc cung cấp địa điểm, nỏ và bật lửa để người khác sử dụng ma túy của bị cáo là một trong các hành vi của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”,

trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, xâm phạm sức khỏe của người sử dụng và là nguy cơ phát sinh một số dịch bệnh nguy hiểm trong cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. HĐXX thấy có đủ cơ sở pháp lý để xác định hành vi của Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 BLHS.

[2] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Như phân tích ở mục [1], bị cáo biết tác hại của ma túy nhưng vẫn lén lút sử dụng và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép thể hiện sự coi thường bản thân, coi thường pháp luật, thiếu trách nhiệm với gia đình và cộng đồng, thách thức cơ quan quản lý. Vì vậy cần có hình phạt tù có thời hạn tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được giáo dục, học tập và phấn đấu để trở thành người tốt hơn, biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng và nhân thân: Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng, nhưng bị cáo có nhân thân xấu do ngày 07/01/2020 chấp hành xong án phạt tù về tội “Đánh bạc”, nhưng đến ngày 14/12/2022 lại phạm tội mới; sau khi biết mình bị truy nã bị cáo không ra trình diện ngay mà tiếp tục trốn tránh đến khi bị bắt, do đó khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc đến ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội bộc phát, không có sự bàn bạc, thống nhất trước khi thực hiện; khi Cơ quan Công an phát hiện bị cáo đã đi khỏi chỗ ở; sau khi bị bắt giữ theo lệnh truy nã bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mìn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4] Về hình phạt: Như đã phân tích ở mục [2] và mục [3], ngoài việc sử dụng, bị cáo còn 02 lần cung cấp dụng cụ và địa điểm cho các đối tượng khác sử dụng và tổ chức sử dụng là hành vi gieo rắc cái chết trắng cho nhiều người nên việc xét xử và áp dụng hình phạt theo điểm khoản và điều luật đã bị truy tố là phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội.

[5] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ vật chứng đã được xử lý theo Bản án số 78/2023/HSST ngày 30/8/2023 của TAND huyện Xuyên Mộc xét xử đối với bị cáo: Trần Nguyễn H2, Trần Thị Ny N, Nguyễn Thị T2, Tạ Nhật L, Nguyễn Xuân T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Tổ chức sử dụng trái phép chất may túy” nên HĐXX không xem xét, quyết định.

[6] Về các vấn đề khác: Ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Phường C, quận H, thành phố Hồ Chí Minh là người cho bị cáo Đ mượn nhà đất để ở, nhưng không biết bị cáo cho các đối tượng khác sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ông T1 đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và đã được xem xét quyết định trong bản án số 78/2023/HSST ngày 30/8/2023 của TAND huyện Xuyên Mộc nên HĐXX không triệu tập ông T1 tham gia phiên tòa sơ thẩm này vẫn đảm bảo việc giải quyết vụ án đúngpháp luật.

[7] Về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đồng thời khẳng định không bị ai đánh đập hay ép khai trái với ý chí của mình.

Tuy nhiên Biên bản hỏi cung đối với bị cáo Đ, nhưng có một vài chỗ trả lời lại là “Tôi H2 xin trả lời...” (BL 274, 276) là còn sai sót. Xét việc sai sót này do đánh máy và rà soát, không ảnh hưởng tới bản chất vụ việc đã được bị cáo khai nhận tại phiên tòa; đề nghị Điều tra viên và Kiểm sát viên nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Đối chiếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Kiểm sát viên, VKSND huyện Xuyên Mộc trong quá trình điều tra, truy tố đã cơ bản thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS.

[8] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Xét về điều luật, tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung nên HĐXX chấp nhận. Tuy nhiên về mức hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức nhẹ hơn mức Kiểm sát viên đề nghị.

[9] Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo và VKSND được quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào: Các điều 260, 268, 269, 298, 299 của Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 08 (T4) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ các Điều: 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo và VKSND cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày; VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16-7-2024). Ông Trần Ngọc T1 không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  1. Về quyền yêu cầu thi hành án: Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -Bị cáo;
  • -VKSND huyện Xuyên Mộc;
  • -VKSND tỉnh BR-VT;
  • -CA huyện Xuyên Mộc;
  • -Phòng PV 06-10 CA tỉnh BR-VT;
  • -Sở Tư pháp tỉnh BRVT;
  • -TAND tỉnh BRVT;
  • -Chi Cục THADS huyện Xuyên Mộc;
  • -UBND xã Hòa Hiệp, huyện Xuyên Mộc;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạt 08 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger