Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bản án số: 56/2024/HS-ST Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Ngày 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Quốc
Thẩm phán: Ông Đào Liệt Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Quý Đôn
2/ Ông Lê Thuận Bé
3/ Ông Nguyễn Văn Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh An - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐ – TA ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị Thu T, sinh năm 1993. Nơi thường trú: Thôn S, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; họ và tên cha: Lê Quang Q (sống); họ và tên mẹ: Lê Thị T1 (sống); anh ruột: 01 người sinh năm 1992; chồng: Bùi Văn T2; con: có 02 người lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Thu T: Luật sư Hồ Thiếu T3 – Công ty L thuộc đoàn Luật sư thành phố C. (Có mặt)

* Bị hại:

  1. Bà Đặng Thị S, sinh năm 1984. (Có mặt)
  2. Địa chỉ: Số E, đường A, khu cán bộ giáo viên Đại học C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  3. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1992. (Có mặt)
  4. Địa chỉ: Nhà T, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  5. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1994. (Có mặt)
  6. Địa chỉ: Lô S, khu công nghiệp T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1992. (Có mặt)
  2. Địa chỉ: Số C đường L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

  3. Ông Nguyễn Tấn P1, sinh năm 1977. (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số B đường H, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

  5. Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1987. (Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Số A đường L, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

* Người làm chứng:

  1. Ông Lê Quang M, sinh năm 1990. (Có mặt)
  2. Địa chỉ: Số H, tổ A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  3. Bà Hoàng Thị Hải A, sinh năm 1984. (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số B, khu dân cư I, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  5. Ông Trần Anh Q1, sinh năm 1999. (Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Lô S, khu công nghiệp T, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

  7. Bà Nguyễn Phước Bảo T5, sinh năm 1999. (Vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Chung cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  9. Bà Nguyễn Thị Bích T6, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Số D, khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11 năm 2021, Lê Thị Thu T đến thành phố Cần Thơ làm việc và sinh sống. Quá trình sinh sống tại thành phố Cần Thơ, T quen biết với bà Đặng Thị S, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị P và một số người khác. Đến tháng 6/2022, do cần tiền chi xài và trả nợ nên T đưa ra thông tin gian dối có người cần mua yến nhưng T không đủ tiền nên kêu bà Đặng Thị S, bà Nguyễn Thị P và bà Nguyễn Thị D chuyển tiền để hùn mua yến bán lại kiếm lợi nhuận. Tin là thật nên bà S, P, D đã chuyển tiền cho T qua tài khoản số 9939333397779 của Ngân hàng TMCP Đ1 Chi nhánh N (P2). Sau khi nhận được tiền, để tạo lòng tin cho bà S tiếp tục chuyển tiền, T trích ra một phần trả lãi cho bà S, số tiền còn lại T chiếm đoạt để chi xài cá nhân, trả nợ, mua xe mô tô. Cụ thể như sau:

  1. Đối với bà Đặng Thị S:
  2. Lần 1: Ngày 09/9/2022, T nói dối bà S có bà T7 - kinh doanh yến ở đường M, quận N, thành phố Cần Thơ cần mua 5kg yến, T đề nghị bà S hùn 115.000.000 đồng để mua yến bán lại và chia lời cho bà S 10.000.000 đồng. Tin là thật, bà S chuyển khoản cho T 115.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T trả tiền lời mua bán yến cho Nguyễn Thị P 21.500.000 đồng và trả nợ cho bà T4 78.000.000 đồng, số tiền còn lại Thảo chi xài cá nhân.

    Lần 2: Ngày 30/9/2022, T nói dối bà S có người cần mua 02 kg yến, T đề nghị bà S hùn 19.000.000 đồng. Tin là thật, bà S chuyển khoản cho T 19.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T chuyển cho Lê Quang M 9.000.000 đồng để M chuyển cho bà Lê Thị T1 (mẹ T) để bà mua yến gửi vào cho T, còn lại 10.000.000 đồng Thảo chi xài cá nhân.

    Lần 3 và lần 4: Ngày 12/11/2022, T nói dối bà S có người khách tên T8 cần mua 04kg yến nên đề nghị bà S hùn 99.000.000 đồng và sau đó kêu hùn tiếp 60.000.000 đồng. Tin là thật, bà S chuyển tiền 02 lần cho T tổng cộng 159.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T chuyển trả nợ cho bà Nguyễn Thị T4 120.000.000 đồng, bà Lê Thị Kim O 69.600.000 đồng và trả tiền gốc và tiền lời bán yến cho bà S 43.000.000 đồng.

    Lần 5: Ngày 13/12/2022 - 15/12/2022, T nói dối với bà S cần tiền mua 19kg yến dự trữ để bán dịp tết nên đề nghị bà S hùn 437.000.000 đồng. Tin là thật, ngày 13/12/2022, bà S chuyển cho T 345.000.000 đồng và ngày 15/12/2022 chuyển 92.000.000 đồng. Sau khi nhận được 437.000.000 đồng, T trả cho bà Nguyễn Thị T4 110.000.000 đồng; bà Đặng Thị S 56.100.000 đồng; bà Lê Thị Kim O 83.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị P 20.000.000 đồng cho; bà Nguyễn Thị S1 5.000.000 đồng; mua xe SH Mode tại công ty A1 77.705.000 đồng; số tiền còn lại T chi xài cá nhân.

    Lần 6: Ngày 06/02/2023, T nói dối có khách hàng cần mua 03kg yến nên đề nghị bà S hùn 72.000.000 đồng. Tin là thật, bà S chuyển 72.000.000 đồng cho T. Sau khi nhận được tiền, T trả nợ cho bà Lê Thị Kim O 69.500.000 đồng, còn lại chi xài cá nhân.

    Như vậy, sau khi nhận được tổng số tiền 802.000.000 đồng từ bà S. Để tạo lòng tin cho bà S tiếp tục chuyển tiền hùn mua yến, T dùng chính số tiền này trả một phần tiền gốc là 85.000.000 đồng (30.000.000 đồng lần 4 và 55.000.000 đồng lần 6), số tiền còn lại 717.000.000 đồng T chiếm đoạt để chi xài cá nhân. (Bút lục số: 447-451).

  3. Đối với bà Nguyễn Thị D:
  4. Ngày 13/02/2023, do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên T nói dối với bà D có người cần mua 1,3 kg yến nhưng T không đủ tiền nên đề nghị bà D hùn 14.300.000 đồng để mua yến, sau đó bán lại chia lợi nhuận cho bà D. Tin là thật, bà D chuyển cho T 14.300.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T không mua yến như thỏa thuận mà chuyển khoản 14.000.000 đồng để trả nợ cho bà Nguyễn Thị T4. Như vậy, số tiền mà T chiếm đoạt của bà D là 14.300.000 đồng. (Bút lục số: 452-453)

  5. Đối với bà Nguyễn Thị P:
  6. Ngày 16/02/2023, T nói dối có người cần mua 600g yến nên đề nghị bà P hùn 10.000.000 đồng để mua yến bán lại kiếm lời. Tin là thật, bà P chuyển cho T 10.000.000 đồng. Đến ngày 17/02/2023, T tiếp tục đề nghị bà P hùn 40.000.000 đồng để mua 1,5kg yến nhưng do không đủ tiền nên bà P hùn 30.000.000 đồng.

    Sau khi nhận được tiền của bà P, T chuyển cho bà Lê Thị Kim O để trả nợ mà không mua yến như thỏa thuận. Như vậy số tiền T chiếm đoạt của bà P là 40.000.000 đồng. (Bút lục số: 454-455)

Như vậy, với hành vi đưa ra thông tin gian dối có người cần mua yến nhưng T không đủ tiền nên đề nghị bà Đặng Thị S, bà Nguyễn Thị P và bà Nguyễn Thị D hùn tiền để mua yến bán lại kiếm lời. Tin là thật, bà S, P, D đã chuyển tiền cho T nhưng T không thực hiện như thảo thuận mà chiếm đoạt của bà Đặng Thị S, bà Nguyễn Thị P và bà Nguyễn Thị D tổng số tiền 771.300.000 đồng để trả nợ, mua xe và tiêu xài cá nhân.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi cấn trừ tiền T trả một phần lãi và gốc, bà Đặng Thị S yêu cầu T khắc phục số tiền 552.800.000 đồng; Bà Nguyễn Thị D yêu cầu T khắc phục 14.300.000 đồng; Sau khi cấn trừ tiền lời mua bán yến và lương của T mà bà giữ, bà Nguyễn Thị P yêu cầu T khắc phục 24.840.000 đồng. Đến nay Lê Thị Thu T chưa khắc phục.

Tại Cáo trạng số 44/CT-VKS-P2 ngày 08/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Lê Thị Thu T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên đề nghị tuyên bố: bị cáo Lê Thị Thu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Thị Thu T mức án từ 14 năm đến 15 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: căn cứ điều 584, 585 Bộ luật dân sự buộc bị cáo khắc phục cho bị hại bà Đặng Thị S số tiền 548.800.000 đồng; bà Nguyễn Thị Danh S2 tiền 14.300.000 đồng và bà Nguyễn Thị P số tiền 24.840.000 đồng.

Luật sư Hồ Hiếu T9 bào chữa cho bị cáo Lê Thị Thu T trình bày quan điểm: Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội vì vậy luật sư thống nhất với tội danh như Viện kiểm sát truy tố. Tuy nhiên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ như sau: Bị cáo ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả, chưa có tiền án tiền sự, mẹ bị cáo đã lớn tuổi, gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất khung hình phạt.

Phần trình bày của những người bị hại:

Bà Đặng Thị S đồng ý cấn trừ số tiền 4.000.000 đồng đã nhận 02 lần chuyển khoản từ bị cáo. Nay bà yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 548.800.000 đồng, bị hại không đồng đồng ý với luật sư đề nghị bị cáo về việc áp dụng tình tiết khắc phục hậu quả của hại cáo, đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo.

Bà Nguyễn Thị D yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 14.300.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị P yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 24.840.000 đồng.

Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn hối hận về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ gia đình,đi làm trả nợ cho các bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể bồi thường cho bà S 548.800.000 đồng, bà D 14.300.000 đồng và bà P 24.840.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Thu T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Qua các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, kết hợp lời khai nhận của bị cáo, lời khai của bị hại và các biên bản đối chất, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:

Bị cáo đưa ra thông tin gian dối có người cần mua yến nhưng T không đủ tiền để mua yến bán lại kiếm lời nên T đề nghị bà Đặng Thị S, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Phương H tiền để T mua yến bán lại kiếm lời chia cho bà S, D, P. Tin là thật nên các bà S, D, P chuyển tiền cho T nhưng T không thực hiện như thỏa thuận mà chiếm đoạt 771.300.000 đồng để trả nợ, mua xe mô tô và tiêu xài cá nhân. Hành vi thực hiện của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án:

[3.1] Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực để nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì vụ lợi cá nhân mà bị cáo đã bất chấp hậu quả để thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, gây bất bình hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để cải tạo bị cáo đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ:

Tiến trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đang nuôi con nhỏ nên được Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với số tiền 4.000.000 đồng bị cáo khắc phục hậu quả cho bà S, đây là số tiền rất nhỏ so với số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Trên cơ sở đánh giá toàn diện về nguyên nhân, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội; về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để bị cáo ăn năn, hối lỗi đối với hành vi phạm tội của mình và thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, học tập, tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội sau này.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và những người bị hại như sau:

Bị cáo bồi thường cho bà Đặng Thị S 548.800.000 đồng.
Bị cáo bồi thường cho bà Nguyễn Thị D 14.300.000 đồng.
Bị cáo bồi thường cho bà Nguyễn Thị P 24.840.000 đồng.

[5] Đối với đơn tố giác của bà Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Tấn P1: P1 và S1 cho T mượn tiền để mua hàng đến nay T không có tiền trả nên đây là giao dịch dân sự. Riêng việc bà T4 hùn tiền với T mua yến được T chia lời nhiều lần, phần tiền còn lại T chưa thanh toán là tranh chấp dân sự. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự là có căn cứ.

Đối với Lê Châu Đ, Lê Thị Kim O, Nguyễn Thị T4, Lê Thị T1, Lê Quang M: Khi nhận được tiền T chuyển trả nợ và mua yến dùm, không biết số tiền này là tiền do T lừa đảo mà có nên không xem xét xử lý hình sự là có căn cứ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Thu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  2. Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt: bị cáo Lê Thị Thu T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 584, 585 Bộ luật dân sự.
  5. Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại như sau:

    Bị cáo bồi thường cho bà Đặng Thị S số tiền 548.800.000 đồng.
    Bị cáo bồi thường cho bà Nguyễn Thị D 14.300.000 đồng.
    Bị cáo bồi thường cho bà Nguyễn Thị P 24.840.000 đồng.

    Kể từ khi người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì bị cáo còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

  6. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  7. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 27.517.600 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm mười bảy ngàn sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - VKSND Tp. Cần Thơ;
  • - CQCSĐT Tp.Cần Thơ;
  • - Trại tạm giam Tp. Cần Thơ;
  • - Cục THADS Tp. Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thanh Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thu T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger