|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày: 23/7/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Hưng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Dựng;
2. Bà Đinh Thị Tin;
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Tiến Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm - trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần - trại tạm giam Công an tỉnh H, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 17 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D sinh năm 1978; Nơi cư trú: Khu dân cư M, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Có bố là ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1953; Có mẹ là bà Nguyễn Thị H, đã chết; Có vợ là Trần Thị L, sinh năm 1977; Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2001; gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14 ngày 08/3/2004 của Công an huyện K (nay là thị xã K) xử phạt về hành vi “Đánh bạc” số tiền 500.000 đồng. Bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 12/3/2004.
Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở chữa bệnh số 2718 ngày 17/12/2010 của Chủ tịch UBND huyện K (nay là thị xã K), thời hạn áp dụng đưa người vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh H là 24 tháng.
Tại quyết định về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại trung tâm số 2255 ngày 13/12/2012 của Chủ tịch UBND huyện K (nay là thị xã K), thời hạn áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại Trung tâm quản lý sau cai nghiện tỉnh H là 24 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 02/12/2014.
Tại bản án số 183 ngày 23/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngày 03/12/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án sơ thẩm. Ngày 23/11/2018 bị cáo chấp hành xong phần thi hành án dân sự của bản án sơ thẩm (án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/5/2024, đến ngày 26/5/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên tòa);
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1980 (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Người tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần:
+ Ông Trần Thăng L1 – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn;
+ Ông Tăng Bá T1 – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn;
+ Ông Lê Văn B – Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 22/5/2024, Nguyễn Văn D1 đi nhờ xe của người đi đường không quen biết đến khu vực Cầu Q thuộc quận L, thành phố Hải Phòng với mục đích tìm mua ma túy loại Heroine để sử dụng. Tại đây, D1 đã gặp được một người đàn ông không quen biết và hỏi mua được của người này 12 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Đặc điểm được mô tả: 12 gói giấy nhỏ, bên trong có chứa chất tinh bột dạng cục màu trắng, tất cả đều được đặt trong 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Thăng Long”. D1 đã lấy 01 phần ma túy trong 01 gói giấy nhỏ ra để sử dụng tại nhà riêng của D1, địa chỉ: Khu dân cư M, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Phần ma túy còn lại, D1 tiếp tục đặt trong vỏ bao thuốc lá hiệu “Thăng Long” và cất giấu vào túi quần đùi bên phải đang mặc.
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, D1 tìm mua bơm kim tiêm để sử dụng ma túy. Khi đến khu vực trước hiệu thuốc Huyền A thuộc Khu dân cư T, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương, D1 đã bị tổ công tác Công an thị xã K và Công an phường T phối hợp kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại túi quần đùi bên phải của D1 đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Thăng Long” bên trong có đựng 12 gói giấy với kích thước khác nhau, trong mỗi gói giấy đều có chứa chất dạng bột màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D1, kết quả: không thu giữ tài liệu đồ vật liên quan đến vụ án.
Tại kết luận giám định số 263/TKL-KTHS ngày 25/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 12 gói giấy được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, tổng khối lượng là 0,966g gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. H2 lại đối tượng giám định 0,858g ma túy loại Heroine, 12 mảnh giấy và 01 phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.
Tại bản Cáo trạng số 50/CT - VKS ngày 25/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 từ 21 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/5/2024, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về việc xử lý vật chứng và án phí của vụ án.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận hành vi phạm tội của bị cáo và hành vi được mô tả trong bản cáo trạng là phù hợp. Bị cáo không tranh luận gì với bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được sớm trở về với gia đình, tái hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thị xã K; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát thị xã K trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ và lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, tại khu vực trước cửa hiệu thuốc Huyền A thuộc Khu dân cư T, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Văn D1 đã có hành vi tàng trữ 0,966g ma túy loại Heroin được gói trong 12 gói giấy với các kích thước khác nhau, tất cả được đặt trong vỏ bao thuốc lá hiệu “Thăng Long” và được cất giấu tại túi quần đùi phía bên phải của D1 đang mặc. Tổ công tác Công an thị xã K và Công an phường T đã phát hiện, bắt quả tang, lập biên bản và thu giữ vật chứng.
[3] Về tội danh và điều khoản truy tố: Bị cáo D1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Bị cáo đã nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm vào trật tự, an toàn công cộng gây ảnh hưởng xấu đến sự an toàn xã hội, an ninh trật tự tại địa phương. Mặc dù bị cáo đã từng đi cai nghiện ma túy, được các cơ quan chức năng giáo dục, được phương tiện báo chí, truyền thông tuyên truyền, phổ biến thường xuyên về tác hại của ma túy nhưng do thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ 0,966g ma túy loại Heroine. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[5] Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, đã bị áp dụng biện pháp chữa bệnh do nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy thời gian dài. Sau đó, bị cáo tiếp tục bị Tòa án xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” và đã được giáo dục, cải tạo qua thời gian chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu rèn luyện, tu dưỡng, chỉ vì không kiềm chế được ham muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng đối với bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc để trừng trị, giáo dục đối với bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Theo các biên bản lấy lời khai trong quá trình điều tra, biên bản xác minh về điều kiện kinh tế và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thể hiện bị cáo là người không có thu nhập ổn định. Do đó, việc áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là không cần thiết.
[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,966g ma túy loại Heroine. Sau khi giám định hoàn lại 0,858g ma túy loại Heroine, 12 mảnh giấy, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Thăng Long” loại vỏ bao mềm đã qua sử dụng, 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật giám định. Đối với số lượng ma túy hoàn lại sau giám định, đây là vật cấm tàng trữ, sử dụng khi không có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền dưới mọi hình thức nên cần phải tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 12 mảnh giấy, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Thăng Long” và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 do không còn giá trị sử dụng nên cũng cần cho tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
[9] Trong vụ án này, đối với người cho D1 đi nhờ và người bán chất ma túy cho D1, quá trình điều tra không xác định được rõ lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[10] Đối với hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” tại nhà riêng của bị cáo, Công an thị xã K đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76 ngày 03/6/2024 xử phạt đối với bị cáo bằng hình phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng, bị cáo đã được con trai là anh Nguyễn Văn C chấp hành hình phạt thay.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 23 (hai mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 23/5/2024. - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,858g ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định, 12 mảnh giấy, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu “Thăng Long” loại vỏ mềm và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật giám định.
(Hiện số vật chứng trên đã được chuyển tới Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Kinh Môn để quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2024).
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thế Hưng |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hoảng 05 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, tại khu vực trước cửa hiệu thuốc Huyền A thuộc Khu dân cư T, phường T, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Văn D1 đã có hành vi tàng trữ 0,966g ma túy loại Heroin được gói trong 12 gói giấy với các kích thước khác nhau, tất cả được đặt trong vỏ bao thuốc lá hiệu “Thăng Long” và được cất giấu tại túi quần đùi phía bên phải của D1 đang mặc. Tổ công tác Công an thị xã K và Công an phường T đã phát hiện, bắt quả tang, lập biên bản và thu giữ vật chứng.
