TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày: 13/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Phạm Ngọc Minh.
2. Bà Lê Thị Huờng.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hải Long -Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường Tòa án huyện N, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/HSST ngày 28/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 01/11/2024 đối với:
Bị cáo: Châu Ngọc Xuân H -sinh năm 2000, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Bàlamôn; quốc tịch: Việt nam; con ông Châu N (đã chết) và bà Bá Thị L. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 29/6/2023, bị Công an xã P xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 21/6/2024, bị Toà án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 06 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản. H chấp hành án tại Trại giam H2-Cục C-Bộ C1, đến ngày 17/9/2024 thì chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/9/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Đến ngày 01/11/2024, bị cáo bị điều chuyển về tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Ninh Thuận, theo thông báo số 25/TB-NTG của Nhà tạm giữ Công an huyện N-Ninh Thuận (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-Người bị hại: ông Kiều Quang L1-sinh năm:1978, (có mặt).
Trú tại: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
-Người làm chứng:
- +Anh Não Gia H1 -sinh năm: 2005 (có mặt).
- +Anh Phụng Châu Ngọc P -sinh năm: 2005 (vắng mặt).
Cùng trú: thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Giữa ông Kiều Quang L1 và bị cáo Châu Ngọc Xuân H, anh Não Gia H1 (cháu H) có mâu thuẫn với nhau từ trước.
Khoảng 18 giờ 00 ngày 03/02/2024, Não Gia H1 và bạn tên Phụng Châu Ngọc P, có đến nhà Châu Ngọc Xuân H ở cùng thôn T, xã P, huyện N để chơi. Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, H1 và P đi bộ về nhà. Lúc đó ông Kiều Quang L1 đang đi bộ trên đường làng, thấy H1 thì nhớ lại mâu thuẫn cũ nên đã dùng 01 ống sắt dài khoảng 50cm đánh trúng vào vai trái Huấn một cái. H1 bỏ chạy vào nhà H và nói cho H biết. H bực tức vì ông L1 đánh cháu H1 nên đã cầm 01 cây xà beng (cây ní) bằng sắt dài khoảng 70-80cm và điều khiển xe mô tô 49T8-6685, một mình đi tìm ông L1. Khi đến ngã ba gần nhà H thì nhìn thấy ông L1 đang cầm 01 ống sắt đứng đó. H điều khiển xe chạy đến chỗ ông L1, H nhảy khỏi xe, đến đứng đối diện cách ông L1 khoảng 01m. H dùng tay phải cầm cây xà beng, đánh phần đầu cong của xà beng vào miệng ông L1 01 cái. Ông L1 vứt ống sắt bỏ chạy, còn H chạy xe về nhà. Ông L1 bị thương và được đưa đi chữa trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N.
Theo kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 140, ngày 04/6/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N xác định tỷ lệ phần trăm thương tật đối với từng vết thương gây nên tại thời điểm giám định của Kiều Quang L1 là: +Vết thương dọc môi dưới từ mặt trong ra mặt ngoài sẹo liền tốt kích thước (5x0,2)cm (03%); +Vết thương dọc môi trên từ mặt trong ra mặt ngoài sẹo liền tốt kích thước (3x0,2)cm (03%); +Gãy 1/2 thân răng R21 (01%); Gãy mất răng R32 (04%); +Gãy xương hàm dưới vùng cằm đã phẫu thuật (08%). Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Kiều Quang L1 tại thời điểm giám định là 18%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22, ngày 28/8/2019 của Bộ Y. Cơ chế hình thành vết thương nhận định do vật sắc gây nên.
*Vật chứng: Sau khi gây án, H đã ném cây xà beng xuống sông, còn xe mô tô 49T8-6685 Hiền bán cho người không rõ nhân thân lai lịch nên không thu giữ được.
*Dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ông Kiều Quang L1 không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.
Việc ông Kiều Quang L1 có hành vi dùng ống sắt đánh Não Gia H1 gây thương tích nhẹ. Huấn không đi khám, không yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu xử lý về hình sự, không yêu cầu bồi thường. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tách hồ sơ chuyển cho Công an xã P xử phạt hành chính đối với hành vi của ông L1.
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSNP ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát huyện N đã truy tố Châu Ngọc Xuân H về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự (BLHS).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên đủ cơ sở kết luận:
Do có mâu thuẫn với nhau từ trước và bực tức việc ông Kiều Quang L1 đánh cháu mình là Não Gia H1, nên khoảng 18 giờ ngày 03/02/2024 tại thôn T, xã P, huyện N, Châu Ngọc Xuân H đã có hành vi dùng cây xà beng bằng sắt, là hung khí nguy hiểm, đánh trúng vùng miệng của ông L1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 18%. Tại cáo trạng của Viện kiểm sát huyện N truy tố H về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự. Vì không kiềm chế được bản thân nên bị cáo có hành vi cố ý gây thương tích cho ông L1. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự tại địa phương. Do đó cần xử phạt nghiêm do chính hành vi, hậu quả bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng răn đe.
[4] Xét tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo H là người có nhân thân xấu, ngày 29/6/2023 bị Công an xã P xử phạt số tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 21/6/2024, bị Toà án huyện N, xử phạt 06 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành án tại Trại giam H2-Cục C-Bộ C1 đến ngày 17/9/2024 thì chấp hành xong hình phạt tù.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, người bị hại có một phần lỗi và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;
[5] Dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên HĐXX không xét.
[6] Vật chứng: Không thu giữ được gì nên HĐXX không xét.
[7] Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát huyện N về việc định tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo tại phiên tòa. HĐXX xét thấy là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm đ Khoản 2 (thuộc Điểm a Khoản 1) Điều 134; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố: Bị cáo Châu Ngọc Xuân H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt: Bị cáo Châu Ngọc Xuân H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 18/9/2024).
- Áp dụng: Điều 329 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tiếp tục tạm giam bị cáo Châu Ngọc Xuân H 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam số 121/2024/HSST-QĐTG ngày 13/11/2024 của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
- Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Châu Ngọc Xuân H phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/11/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châu Ngọc Xuân Hiền về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự (BLHS).
