|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày 12 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tất Dũng
2. Ông Lê Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lâm Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/12/1981 tại Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Lâm Văn T, sinh năm 1949; Con bà: Phan Thị C, sinh năm 1949; Vợ: Lâm Thị H1, sinh năm 1982; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2014; Gia đình có 09 anh, chị em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn H2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/12/1983 tại Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm P, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Nguyễn Quốc H3, đã chết; Con bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1956; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; Con: Có 01 con, sinh năm 2006; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
-
Họ và tên: Lý Minh Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/6/1990 tại Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Chay; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Là Đảng viên Đ2 (Đã đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 90-QĐ/UBKTHU ngày 13/6/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy Đ3); Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Á, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Lý Thái T1, sinh năm 1966; Con bà: Dương Hồng L1, sinh năm 1964; Vợ: Trần Thị L2, sinh năm 1991; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2020; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
-
Họ và tên: Trần Hồng Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 17/4/1992 tại Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Trần Văn V, sinh năm 1969; Con bà: Vũ Thị C1, sinh năm 1970; Vợ: Tô Thị T2, sinh năm 1996; Con: Có 01 con sinh năm 2021; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/10/1988 tại Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Nguyễn Văn Y, sinh năm 1966; Con bà: Bùi Thị L3, sinh năm 1966; Vợ: Diệp Thị X, sinh năm 1994; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; Gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
-
Họ và tên: Mai Kiều H4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 30/12/1986 tại Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Á, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Không xác định; Con bà: Mai Thị D1, sinh năm 1965; Vợ: Bùi Thị X1, sinh năm 1990; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
-
Họ và tên: Chu Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/8/1975 tại Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi tạm trú: Không; Nơi ở hiện tại: Xóm Đ, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Chu Văn C2, đã chết; Con bà: Dương Thị N, sinh năm 1944; Vợ: Hoàng Thị L4, sinh năm 1973; Con: Có 01 con, sinh năm 2002; Gia đình có 09 anh, chị em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
-
Họ và tên: Trần Văn T3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/10/1988 tại Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Chay; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm L, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Trần Văn P, sinh năm 1959; Con bà: Nguyễn Thị S1, sinh năm 1959; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
-
Họ và tên: Lâm Văn V1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/9/1986 tại Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Chay; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Lâm Văn S2, sinh năm 1960; Con bà: Phạm Thị T4, sinh năm 1960; Vợ: Đặng Thị T5, sinh năm 1987; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Gia đình có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại tại địa phương.
-
Họ và tên: Mông Văn C3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/10/1982 tại Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Mông Dương Q1, sinh năm 1960; Con bà: Lý Thị L5, sinh năm 1960; Vợ: Đàm Thị Hồng H5, sinh năm 1983; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2008; Gia đình có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại tại địa phương.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
*Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H2: Bà Vi Khánh P1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
(Có mặt)
*Người chứng kiến: Bà Lương Thị A, sinh năm 1963. (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 50 phút ngày 06/6/2024, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã V tiến hành tuần tra kiểm soát đã phát hiện bắt quả tang tại trang trại chăn nuôi gà của gia đình Mông Văn C3 thuộc xóm Làng Cả, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có Nguyễn Văn H2, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Lâm Văn H, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Mông Văn C3 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 9.240.000đ; 01 bát sứ; 01 đĩa sứ; 04 quân vị một mặt đen, một mặt trắng; 01 thảm nỉ màu đỏ kích thước 3x2m10; thu giữ tại túi quần trước bên phải của Son 01 ví màu nâu bên trong có 225.000đ; thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của H4 số tiền 400.000đ; Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của C3 số tiền 100.000đ. Quá trình bắt quả tang có Trần Văn T3, Lâm Văn V1 bỏ trốn. Ngày 06, 08/6/2024, các đối tượng T3, V1 ra đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, các bị can khai nhận như sau: Khoảng 13 giờ ngày 06/6/2024, tại nhà C3 ở xóm L, xã V, huyện Đ, có Nguyễn Văn H2, Đ, Q, H, Đ1, Mai Kiều H4, S, Vụ, T3 (chủ trang trại gà thuê của C3) và C3 ngồi uống nước chè với nhau ở ngoài sân. Khi đang uống nước thì H rủ mọi người “tý nữa anh em làm tý”, nghĩa là rủ đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, thì tất cả đồng ý. Sau đó, H lấy 01 con dao ở cạnh chỗ để các bao cám gà trong khu nhà tôn và một mảnh tre cắt 04 quân vị, rồi dùng bật lửa đốt một mặt màu đen, Nguyễn Văn H2 vào trạn bát của nhà C3 lấy 01 đĩa sứ, Q vào bếp nhà C3 lấy 01 tấm thảm đỏ và tất cả mang xuống trại gà để đánh bạc. Khi cả nhóm đánh bạc thì H là người xóc cái đầu tiên, sau đó đến Đ và C3. Vị trí ngồi của các bị can khi tham gia đánh bạc lần lượt là Mai Kiều H4, H, Nguyễn Văn H2, Q, T3, Vụ, C3, S, Đ1, Đ. Các bị can đánh bạc đến khoảng 17 giờ 50 phút thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên. Quá trình bắt quả tang có T3 và V1 bỏ trốn, sau đó ra đầu thú.
Hình thức các bị can đánh bạc như sau: Cách chơi là sử dụng 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị bằng tre có một mặt đen, một mặt trắng. Khi bắt đầu chơi, người xóc cái dùng bát úp lên đĩa, bên trong có 04 quân vị, xóc qua xóc lại rồi để xuống chiếu bạc. Khi mở bát, trong 04 quân vị có 02 quân vị mặt đen, 02 quân vị mặt trắng hoặc 04 quân vị mặt đen hoặc 04 quân vị mặt trắng thì ván bạc đó về cửa chẵn, còn khi mở bát có 03 quân vị mặt đen, 01 quân vị mặt trắng hoặc 03 quân vị mặt trắng, 01 quân vị mặt đen thì ván bạc đó về cửa lẻ. Người chơi sẽ đặt tiền cược vào bên chẵn hoặc lẻ nếu thắng cược thì được hưởng số tiền gấp đôi tiền đặt cược. Nếu thua cược thì bị mất số tiền đã đặt cược. Mọi người tùy thích đặt tiền vào cửa chẵn hoặc cửa lẻ, tối thiểu mỗi lần đặt cược là 10.000 đồng, không quy định đặt cược tối đa. Nếu tổng số tiền bên thắng nhiều hơn bên thua thì người cầm cái bỏ tiền ra để trả cho những người tham gia đánh bạc nếu thừa thì người cầm cái được hưởng.
Quá trình điều tra các bị can đều khai nhận và xác định số tiền 9.240.000₫ thu giữ trên chiếu bạc và số tiền thu giữ trên người của Son 225.000đ, của H2 400.000đ, của C3 100.000đ. Tổng số tiền là 9.965.000đ là số tiền các bị can dùng để đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc các bị can dùng tiền đánh bạc như sau:
- H vay của Đương 1.000.000đ để tham gia đánh bạc, đánh khoảng 20 ván.
- Đ vay của Đ1 2.000.000đ để tham gia đánh bạc, đánh khoảng 15 ván.
- Q có 1.020.000₫ để tham gia đánh bạc, đánh khoảng 20 ván.
- Nguyễn Văn H2 có 1.000.000₫ vay của Đ1 để tham gia đánh bạc, đánh khoảng 20 ván.
- Mai Kiều H4 có 700.000đ để tham gia đánh bạc, đánh khoảng 25 ván.
- Thao có 800.000đ để tham gia đánh bạc, đánh khoảng 15 ván. T3 cho Đ1 vay 5.000.000₫ để mua rừng.
- Đương mang theo 720.000đ để tham gia đánh bạc. Đương vay của T3 5.000.000₫ và cho Đ vay 2.000.000đ, Nguyễn Văn H2 1.000.000đ, Cương 1.000.000đ, còn 1.000.000₫ Đ1 sử dụng để đánh bạc, đánh khoảng 20 ván.
- Vụ có 300.000đ để tham gia đánh bạc, đánh khoảng 10 ván.
- Son có 295.000₫ để tham gia đánh bạc, đánh khoảng 4 ván.
- Cương được H cho 200.000đ và vay của Đ1 1.000.000đ để tham gia đánh bạc, đánh khoảng 10 ván.
Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 9.965.000₫ tiền ngân hàng N1; 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị một mặt màu đen, 01 mặt mầu trắng; 01 thảm nỉ màu đỏ có kích thước 3m x 2m10; 01 ví da màu nâu; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, loại máy OPPO F1S, màu trắng đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone, loại máy 7Plus, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO, loại máy Vivo Y02t, màu xanh đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, loại máy OPPO A57, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO, loại máy Vivo 1916, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, loại máy Redmi 12C, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG, loại máy SAMSUNG A03S, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, loại máy OPPO A53, màu đen, đã qua sử dụng, hiện đang được bảo quản theo quy định chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSĐH ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đã truy tố các bị cáo Lâm Văn H, Nguyễn Văn H2, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3, Lâm Văn V1, Mông Văn C3 về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Xác định tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo thể hiện qua bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lâm Văn H, Nguyễn Văn H2, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3, Lâm Văn V1, Mông Văn C3 phạm tội: “Đánh bạc”.
Về hình phạt áp dụng:
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lâm Văn H từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 12 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn H2 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 3 Điều 321 BLHS do bị cáo thuộc hộ hộ nghèo.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lý Minh Đ từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Hồng Q từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 12 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn Đ1 từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 12 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Mai Kiều H4 từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 12 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Chu Văn S từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 12 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Văn T3 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 12 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lâm Văn V1 từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 12 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Mông Văn C3 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 12 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị một mặt màu đen, 01 mặt màu trắng; 01 thảm nỉ màu đỏ có kích thước 3m x 2m10 sử dụng để đánh bạc; 01 ví da màu nâu.
Đối với số tiền 9.965.000đ tiền Ngân hàng N1 thu giữ tại chiếu bạc và trên người các bị cáo là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng là điện thoại di động gồm: Hạnh 01 điện thoại Oppo, loại F1S màu trắng, đã qua sử dụng; Nguyễn Văn H2 giao nộp 01 điện thoại Iphone, loại 7Plus, màu đen, đã qua sử dụng; Mai Kiều H4 giao nộp 01 điện thoại Vivo, loại Y02t, màu xanh đen, đã qua sử dụng; Đương giao nộp 01 điện thoại Oppo, loại A57, màu đen, đã qua sử dụng; Son giao nộp 01 điện thoại Vivo, loại 1916, màu đen, đã qua sử dụng; Thao giao nộp 01 điện thoại Xiaomi, loại Redmi 12C, màu đen, đã qua sử dụng; Q giao nộp 01 điện thoại Samsung, loại A03S, màu trắng, đã qua sử dụng; Cương giao nộp 01 điện thoại Oppo, loại A53, màu đen, đã qua sử dụng. Trả lại cho các bị cáo vì không liên quan đến tội phạm tuy nhiên các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H2 01 điện thoại Iphone, loại 7Plus, màu đen, đã qua sử dụng vì không liên quan đến tội phạm.
Các bị cáo Lâm Văn H, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3, Lâm Văn V1, Mông Văn C3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Miễn án phí đối với bị cáo Nguyễn Văn H2 do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn tiền phạt và án phí.
Trong phần tranh luận bà Vi Khánh P1 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T trình bày bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H2: Nhất trí với bản cáo trạng cũng như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để đưa ra một mức án tương xứng, cần mở lượng khoan hồng của pháp luật cho bị cáo. Từ căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp dưới khung đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời. Miễn án phí, hình phạt bổ sung đối với bị cáo H2 do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí được chính quyền xóm xã xác nhận. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H2 01 điện thoại Iphone, loại 7Plus, màu đen, đã qua sử dụng vì không liên quan đến tội phạm.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên.Viện kiểm sát huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào theo quy định của pháp luật; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên toà hôm nay các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đã truy tố các bị cáo Lâm Văn H, Nguyễn Văn H2, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3, Lâm Văn V1, Mông Văn C3 là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai nhận tội của các bị cáo là khách quan phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản hiện trường, bản ảnh, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ xác định:
Hồi 17 giờ 50 phút ngày 06/6/2024 tại trang trại chăn nuôi gà của gia đình Mông Văn C3 ở xóm L, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Lâm Văn H, Nguyễn Văn H2, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3, Lâm Văn V1, Mông Văn C3 đang đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền dùng để đánh bạc là 9.965.000₫ (Chín triệu, chín trăm sáu mươi năm nghìn đồng) cùng các vật chứng khác liên quan.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Lâm Văn H, Nguyễn Văn H2, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3, Lâm Văn V1, Mông Văn C3 đã phạm vào tội “ Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ.
Nội dung Điều 321 BLHS quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
2.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra theo điều luật nêu trên.
[3]. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, từ việc đánh bạc có thể dẫn đến phát sinh nhiều hành vi trái pháp luật khác. Vì vậy, việc đưa ra xét xử đối với các bị cáo là cần thiết nên phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích và răn đe đấu tranh phòng ngừa chung.
[4]. Xét vai trò, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Các bị cáo tham gia đánh bạc trong vụ án này với vai trò đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội không có bàn bạc từ trước, chỉ khi ngồi uống nước cùng nhau thì bị cáo H khởi sướng rủ mọi người “tý nữa anh em làm tý”, nghĩa là rủ đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền tất cả đồng ý. Sau đó, H lấy 01 con dao ở cạnh chỗ để các bao cám gà trong khu nhà tôn và một mảnh tre cắt 04 quân vị, rồi dùng bật lửa đốt một mặt màu đen để đánh bạc, các bị cáo đồng ý nên cùng nhau thực hiện hành vi nhằm mục đích thu lời bất chính. Trần Văn T3 là chủ trại gà thuê lại. Mông Văn C3 là chủ nhà cho bị cáo T3 thuê và cũng là người xóc cái khi bị phát hiện bắt giữ nên xác định ba bị cáo này có vai trò chính, còn các bị cáo khác trong vụ án là vai trò ngang nhau.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy, trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, các bị cáo T3, V1 sau khi sự việc xảy ra đến Cơ quan công an đầu thú; bị cáo H4 thuộc gia đình chính sách. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là phạt tiền nộp ngân sách Nhà nước đối với các bị cáo.
Riêng bị cáo Nguyễn Văn H2 có hoàn cảnh gia đình thuộc diện hộ nghèo có đơn xin miễn án phí, tiền phạt nên miễn tiền phạt đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị một mặt màu đen, 01 mặt màu trắng; 01 thảm nỉ màu đỏ có kích thước 3m x 2m10 sử dụng để đánh bạc; 01 ví da màu nâu.
Đối với số tiền 9.965.000đ tiền Ngân hàng N1 thu giữ tại chiếu bạc và trên người các đối tượng. Xét thấy, các bị cáo đều thừa nhận sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với điện thoại di động các bị cáo tự nguyện giao nộp gồm: H 01 điện thoại Oppo, loại F1S màu trắng, đã qua sử dụng; Mai Kiều H4 01 điện thoại Vivo, loại y20t, màu xanh đen, đã qua sử dụng; Đương 01 điện thoại Oppo, loại A57, màu đen, đã qua sử dụng; Son 01 điện thoại Vivo, loại 1916, màu đen, đã qua sử dụng; Thao 01 điện thoại Xiaomi, loại Redmi 12C, màu đen, đã qua sử dụng; Q 01 điện thoại Samsung, loại A03S, màu trắng, đã qua sử dụng; Cương 01 điện thoại Oppo, loại A53, màu đen, đã qua sử dụng. Xét thấy, các bị cáo đều không sử dụng điện thoại di động trên vào hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung, do đó tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với các bị cáo.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H2 01 điện thoại Iphone, loại 7Plus, màu đen, đã qua sử dụng vì không liên quan đến tội phạm.
Xét đề nghị của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H2 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các bị cáo Lâm Văn H, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3, Lâm Văn V1, Mông Văn C3 phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H2 do có hoàn cảnh gia đình thuộc diện hộ nghèo có đơn xin miễn án phí.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Lâm Văn H, Nguyễn Văn H2, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
*Tuyên bố: Các bị cáo Lâm Văn H, Nguyễn Văn H2, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3, Lâm Văn V1, Mông Văn C3 phạm tội: “Đánh bạc”.
*Về hình phạt:
-
Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Lâm Văn H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Văn H2 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Lý Minh Đ 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Trần Hồng Q 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Nguyễn Văn Đ1 09 (Chín) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Mai Kiều H4 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Chu Văn S 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Trần Văn T3 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/06/2024. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Lâm Văn V1 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
-
Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Các Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự;.
Xử phạt Mông Văn C3 12 (Mười hai) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
*Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng là công cụ liên quan đến hành vi phạm tội đều đã qua sử dụng gồm: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị một mặt màu đen, 01 mặt màu trắng; 01 thảm nỉ màu đỏ có kích thước 3m x 2m10, thảm nỉ cũ đã qua sử dụng dùng để đánh bạc; 01 ví da màu nâu đã cũ qua sử dụng.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.965.000 đồng (Chín triệu, chín trăm sáu mươi năm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 là số tiền liên quan đến hành vi phạm tội.
Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thì hành án do các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung gồm: Lâm Văn H 01 điện thoại Oppo, loại F1S màu trắng, IMEL1: 863897039847475; IMEL2: 863897039847467 máy đã cũ qua sử dụng; Mai Kiều H4 01 điện thoại Vivo, loại y20t, màu xanh đen, IMEL1: 862238060637264; IMEL2: 862238060637272 máy đã cũ qua sử dụng; Nguyễn Văn Đ1 01 điện thoại Oppo, loại A57, màu đen, IMEL1: 869945069618797; IMEL2: 869945069618789 máy đã cũ qua sử dụng; Chu Văn S 01 điện thoại Vivo, loại 1916, màu đen, IMEL1: 865966046672115; IMEL2: 865966046672107 máy đã cũ qua sử dụng; Trần Văn T3 01 điện thoại Xiaomi, loại Redmi 12C, màu đen, IMEL1: 866470062666282; IMEL2: 866470062666290 máy đã cũ qua sử dụng; Trần Hồng Q 01 điện thoại Samsung, loại A03S, màu trắng, IMEL1: 357774839088241; IMEL2: 359673489088246 máy đã cũ qua sử dụng; Mông Văn C3 01 điện thoại Oppo, loại A53, màu đen, IMEL1: 864326055027191; IMEL2: 864326055027183 máy đã cũ qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H2 01 điện thoại Iphone, loại 7Plus, màu đen, IMEL1: 356697083934300; IMEL2: 35669708393430 máy đã cũ qua sử dụng vì không liên quan đến tội phạm.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, số tiền theo uỷ nhiệm chi ngày 31/10/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên).
*Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Các bị cáo Lâm Văn H, Lý Minh Đ, Trần Hồng Q, Nguyễn Văn Đ1, Mai Kiều H4, Chu Văn S, Trần Văn T3, Lâm Văn V1, Mông Văn C3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H2.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên bản án./.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Tuấn |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Lâm Văn Hạnh, Nguyễn Văn Hưng, Lý Minh Đức, Trần Hồng Quân, Nguyễn Văn Đương, Mai Kiều Hưng, Chu Văn Son, Trần Văn Thao, Lâm Văn Vụ, Mông Văn Cương phạm tội: “Đánh bạc”.
