Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐĂK HÀ

TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST

Ngày 05/11/2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Giang.

2. Bà Chu Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Trịnh Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Đức T, sinh ngày 24/4/1998 tại tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký thường trú: Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia LaiNơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn M; Sinh năm: 1976 và bà Võ Thị S năm: 1979; gia đình có 03 người con; vợ là Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm: 2003; có con là Vũ Nguyễn Tố N năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 08/9/2020, bị Công an xã I, tỉnh Gia Laira quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 28/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 12 (Mười hai) tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2024 đến nay đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị T1 năm 1986. Trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng: Anh A M1sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng giữa tháng 7/2024, Vũ Đức T2 cửa hàng máy cưa của anh Nguyễn Ngọc C(sinh năm 1987; trú tại TDP B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tumxin việc làm (cắt cây cao su). Tuy nhiên, thời điểm này trời liên tục mưa không có việc làm nên T3 ở lại tại cửa hàng. Đến khoảng 12h00 ngày 22/7/2024, T4 tỉnh Gia Lai kiếm cây “Hoa Mai” để bán cho anh C1 không có. Chiều tối cùng ngày, T5 nhậu cùng bạn là Vvà H(đều không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể). Trong lúc ngồi nhậu, H4 với T“bữa nay, ai có máy cưa, máy bơm bán nói tao mua”. Lúc này, T6 sinh ý định lấy máy cưa tại cửa hàng của anh C2 cho H tiền tiêu xài; Thỏi H“mua máy cưa không”; Htrả lời “có, máy cưa đâu, đem đây tao mua cho”; Tnói “bây giờ để xa lắm phải đi lấy”; Hnói “có điện người ta cầm lên đây được không”; Tnói “không được, phải đi lấy”; Hhỏi lại T“ở đâu mà xa”; Tnói “ở ngã ba ĐSau đó, T5 ra ngoài điện thoại cho anh Nguyễn Ngọc C3 vờ mượn máy cưa để về đi làm nhưng anh C4 đồng ý. Quá trình ở tại cửa hàng, Tbiết buổi tối vợ chồng anh C4 ngủ lại cửa hàng mà giao cửa hàng cho anh A M1(sinh năm 1990; trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum quản lý, trông coi nên T6 sinh ý định đón xe quay lại cửa hàng của anh C5 A Mllấy máy cưa đem về bán cho HLúc này, T7 bàn nhậu nói với H“bây giờ đi lấy máy cưa”; Hhỏi “lâu không”; Ttrả lời “đi khoảng chừng ba tiếng là về”. Vì không có tiền, T8 mượn H1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng) để bắt taxi đi lấy máy cưa thì H1 ý. Khoảng 01h00 ngày 23/7/2024, T5 taxi đến cửa hàng của anh C6 thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon TumTgọi cửa thì A Mlra mở; Tnói với A M1“anh C7 đưa 02 máy cưa cho anh để anh đi làm cho anh C8 M1nói với T“đi xuống Đăk Hlnói anh C9 ý thì em đưa cho anh”; Tmượn điện thoại của A M1gọi cho vợ của anh C10 chị Nguyễn Thị T9(sinh năm 1986; trú tại TDP B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Tnói “em có điện cho anh C11, anh C12 đưa em cái máy cưa để em đi qua Lào làm cho người ta”; chị Tlnói với T“Bây giờ muộn rồi, chị không cho lấy đâu, có gì ngày mai gặp anh C12 chuyện”; chị Tlnói Tđưa điện thoại cho A Mlqua điện thoại chị Tlnói A M1không được đưa máy cưa cho TSau khi nói chuyện điện thoại xong, A M1không đồng ý cho Tlấy máy cưa. Lúc này, T10 nói tài xế taxi chở T11 lại thị trấn Đ vào nhà anh C13 cửa nhưng không thấy ai ra mở, T12 điện thoại gọi cho anh C1 không thấy anh C14 máy. Đến khoảng 02h20 cùng ngày, T11 lại cửa hàng và nói với A M1“anh C7 lấy 02 cái máy cưa và 02 cái lam cưa đưa cho anh, muộn rồi mai còn đi làm nữa”; A M1chưa tin nên lấy điện thoại gọi cho anh C1 không gọi được; T13 với A M1“máy anh C15 pin rồi”. Vì tưởng lời nói của Tlà thật, A Mllấy 02 máy cưa (01 (một) máy cưa lốc màu cam, nhãn hiệu HUSQVARNA 365; 01 (một) máy cưa lốc nhãn hiệu STIHL 381, màu cam trắng) và 02 lam cưa (01 (một) lam cưa 6 nhãn hiệu STIHL, màu trắng; 01 (một) lam

cưa 7 nhãn hiệu STIHL, màu trắng) đưa cho TTcầm máy cưa và lam cưa lên taxi đi về Gia Lai. Đến khoảng 18h00 cùng ngày, T14 01 (một) máy cưa nhãn hiệu HUSQVARNA 365 màu cam và 01 (một) lam cưa 7 nhãn hiệu STIHL đến bán cho H2 nói “tý đưa thêm cho cái nữa”; Hđưa cho T400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) và nói “cầm cái kia xuống rồi đưa thêm cho”. Đến khoảng 10h00 ngày 24/7/2024, T15 máy cưa lốc nhãn hiệu STIHL 381 màu cam trắng đến bán cho H3 số tiền 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm ngàn đồng). Toàn bộ số tiền bán máy cưa, lam cưa này Tđã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 27/7/2024, chị Nguyễn Thị T16 vợ của anh Nguyễn Ngọc C16 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trình báo.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ: 1. Giá trị của 01 (một) máy cưa lốc màu cam, nhãn hiệu HUSQVARNA 365, mua mới năm 2023, tình trạng máy đã qua sử dụng; thời điểm định giá tháng 7/2024; tài sản thành tiền là 9.500.000 đồng. 2. Giá trị của 01 (một) máy cưa lốc nhãn hiệu STIHL 381, màu cam trắng, tình trạng máy mới; thời điểm định giá tháng 7/2024; tài sản thành tiền là 3.450.000 đồng. 3. Giá trị của 01 (một) lam cưa 6 (sáu) nhãn hiệu STIHL, màu trắng, tình trạng hàng mới; thời điểm định giá tháng 7/2024; tài sản thành tiền là 350.000 đồng. 4. Giá trị của 01 (một) lam cưa 7 (bảy) nhãn hiệu STIHL, màu trắng, tình trạng hàng mới; thời điểm định giá tháng 7/2024; tài sản thành tiền là 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản được xác định thành tiền là 13.800.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm ngàn đồng).

* Vật chứng của vụ án:

  • - Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) máy cưa lốc màu cam, nhãn hiệu HUSQVARNA 365; 01 (một) máy cưa lốc nhãn hiệu STIHL 381, màu cam trắng và 01 (một) lam cưa 7 nhãn hiệu STIHL, màu trắng. Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Đức T17 nhận: Vào ngày 23/7/2024 và ngày 24/7/2024 T18 bán các tài sản nói trên cho Hvới giá 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ngàn đồng). Tuy nhiên, T17 chỉ quen biết Hbên ngoài xã hội mà không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể của HVì vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ có cơ sở để tiến hành việc xác minh, truy tìm, thu giữ vật chứng của vụ án.
  • - Đối với 01 (một) lam cưa 6 nhãn hiệu STIHL, màu trắng. Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Đức T18 giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện Đ1
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động mà bị cáo Vũ Đức T19 dụng liên lạc với anh Nguyễn Ngọc C17 với đối tượng tên HBị cáo Vũ Đức T17 nhận: Sau khi lấy được tài sản, quá trình di chuyển từ huyện Đ, tỉnh Kon Tum về thành phố P, tỉnh Gia Laiđã đánh rơi mất chiếc điện thoại này nhưng không rõ đánh rơi ở đâu. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ có cơ sở tiến hành việc truy tìm, thu giữ đối với chiếc điện thoại này.

* Về dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị T20 cầu được nhận lại 01 (một) lam cưa 6 nhãn hiệu STIHL màu trắng và yêu cầu bị cáo Vũ Đức T21 thường số tiền còn lại là 13.450.000 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

Tại Bản Cáo trạng số 49/CT-VKSĐH ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Vũ Đức T“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Đức T về tội danh như cáo trạng truy tố.

Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đức T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị T20 cầu bị cáo Vũ Đức T21 thường số tiền còn lại là 13.450.000 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị T9 01 (một) lam cưa 6 nhãn hiệu STIHL màu trắng.

- Về án phí: Bị cáo Vũ Đức T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo về hành vi phạm tội của mình là đúng với nội dung truy tố của bản Cáo trạng, bị cáo không có khiếu nại gì đối với kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo hối hận về hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ

quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:

Vào giữa tháng 7/2024, bị cáo Vũ Đức T2 cửa hàng máy cưa của anh Nguyễn Ngọc C18 việc làm và ở lại tại cửa hàng. Đến trưa ngày 22/7/2024, T4 tỉnh Gia Lai kiếm cây “Hoa Mai” để bán cho anh C1 không có. Đến tối cùng ngày, T22 nhậu cùng với Hvà V(không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) tại thành phố P, tỉnh Gia LaiTrong lúc ngồi nhâu, Tnghe H4 “bữa nay, ai có máy cưa, máy bơm bán nói tao mua” nên T6 sinh ý định đón taxi đến cửa hàng máy cưa của anh C5 lấy máy cưa bán cho Hlấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 02 giờ 00 ngày 23/7/2024, Tquay lại cửa hàng của anh C19 A M1(là người được giao quản lý, bảo vệ cửa hàng) đưa thông tin gian dối “anh C7 lấy 02 cái máy cưa và 02 cái lam cưa đưa cho anh, muộn rồi mai còn đi làm nữa”; A M1tưởng thật đã lấy 01 (một) máy cưa nhãn hiệu HUSQVARNA 365 màu cam, 01 (một) máy cưa nhãn hiệu STIHL 381 màu cam trắng, 01 (một) lam cưa 6 nhãn hiệu STIHL màu trắng và 01 (một) lam cưa 7 nhãn hiệu STIHL màu trắng với tổng giá trị tài sản theo kết luận định giá tài sản thường xuyên của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng ngày 02/8/2024 tổng giá trị tài sản là 13.800.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm ngàn đồng) đưa cho Vũ Đức T23 đó, T15 02 (hai) máy cưa và 01 lam cưa 7 nhãn hiệu STIHL màu trắng bán cho H5 số tiền 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) tiêu xài cá nhân hết. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Vũ Đức T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật với động cơ vụ lợi cá nhân, mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài nên bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, tạo tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản và tác động xấu đến đời sống của nhân dân tại địa phương. Do đó, HĐXX xét cần phải có mức hình phạt tù thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, cách ly bị cáo với đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm mục đích giáo dục răn đe và phòng ngừa chung đối với các tội phạm.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Ngày 08/9/2020, bị Công an xã I, tỉnh Gia Laira quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 28/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 12 (Mười hai) tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Mặc dù đến ngày 23/7/2024 đã hết thời hạn được xem là có tiền sự, tiền sự nhưng bị cáo Vũ Đức T24 xác định có nhân thân xấu.
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự: Không
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị hại chị Nguyễn Thị T20 cầu được nhận lại 01 (một) lam cưa 6 nhãn hiệu STIHL màu trắng và yêu cầu bị cáo Vũ Đức T21 thường số tiền còn lại là 13.450.000 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Trả lại đối với 01 (một) lam cưa 6 nhãn hiệu STIHL, màu trắng cho bị hại là chị Nguyễn Thị T9

[7] Về tình tiết khác:

  • - Đối với hai đối tượng Hvà Veơ quan CSĐT Công an huyện Đđã làm rõ các nội dung liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, đối với các nội dung thông tin và đặc điểm nhân thân, lai lịch của hai đối tượng không đủ cơ sở để tiến hành xác minh và truy tìm.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động mà bị cáo đã sử dụng để liên lạc với H do quá trình đi lại từ thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum đến tỉnh Gia Laibị cáo đã đánh rơi nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thu giữ được.
  • - Đối với số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng) mà bị cáo đã dùng vào việc thuê xe taxi đi từ tỉnh Gia Lai đến thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tumdo không xác định được chủ xe taxi nên Cơ quan CSĐT C20 huyện Đ tiến hành làm việc được và không tạm giữ được số tiền trên.

[8] Về án phí:

  • - Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
  • - Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu: 13.450.000₫ x 5% = 672.500 đồng (Sáu trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Vũ Đức T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/7/2024.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại đối với 01 (một) lam cưa 6 nhãn hiệu STIHL, màu trắng cho bị hại là chị Nguyễn Thị T9

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 586, 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Vũ Đức T21 thường cho bị hại chị Nguyễn Thị T9 số tiền còn lại là 13.450.000 đồng (Mười ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) kể từ ngày người yêu cầu có đơn yêu cầu thi hành án, mà bị cáo không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo Vũ Đức T25 phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Vũ Đức T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 672.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/11/2024), bị cáo có quyền kháng cáo bản án này gửi lên Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - Trạm tạm giam CA tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND H. Đăk Hà;
  • - Công an H. Đăk Hà;
  • - Cơ quan THAHS H.Đăk Hà;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào giữa tháng 7/2024, bị cáo Vũ Đức Tâm đến cửa hàng máy cưa của anh Nguyễn Ngọc Cường xin việc làm và ở lại tại cửa hàng. Đến trưa ngày 22/7/2024, Tâm về tỉnh Gia Lai kiếm cây “Hoa Mai” để bán cho anh Cường nhưng không có. Đến tối cùng ngày, Tâm ngồi nhậu cùng với Hùng và Vếu (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) tại thành phố Plei Ku, tỉnh Gia Lai. Trong lúc ngồi nhâu, Tâm nghe Hùng nói “bữa nay, ai có máy cưa, máy bơm bán nói tao mua” nên Tâm nảy sinh ý định đón taxi đến cửa hàng máy cưa của anh Cường lừa lấy máy cưa bán cho Hùng lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 02 giờ 00 ngày 23/7/2024, Tâm quay lại cửa hàng của anh Cường gặp A Mỹ (là người được giao quản lý, bảo vệ cửa hàng) đưa thông tin gian dối “anh Cường bảo lấy 02 cái máy cưa và 02 cái lam cưa đưa cho anh, muộn rồi mai còn đi làm nữa”; A Mỹ tưởng thật đã lấy 01 (một) máy cưa nhãn hiệu HUSQVARNA 365 màu cam, 01 (một) máy cưa nhãn hiệu STIHL 381 màu cam trắng, 01 (một) lam cưa 6 nhãn hiệu STIHL màu trắng và 01 (một) lam cưa 7 nhãn hiệu STIHL màu trắng với tổng giá trị tài sản theo kết luận định giá tài sản thường xuyên của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng ngày 02/8/2024 tổng giá trị tài sản là 13.800.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm ngàn đồng) đưa cho Vũ Đức Tâm. Sau đó, Tâm đem 02 (hai) máy cưa và 01 lam cưa 7 nhãn hiệu STIHL màu trắng bán cho Hùng với số tiền 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) tiêu xài cá nhân hết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger