Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-ST.

Ngày: 25 - 09 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quý Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Thành.

2. Bà Cái Thị Duyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Văn Thị T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi ĐKNKTT: Thôn X, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Số A đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 06/9/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông: Văn Viết D (Cha nuôi) và con bà Trần Thị D1 (tên gọi khác: Q) (Đã chết); chồng: Không có, con: Có 02 người; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/4/2024, tạm giam ngày 19/04/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Nhân N, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  2. Chị Tôn Nữ Huyền T1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số H N, phường K, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản Cáo trạng số: 53/CT-VKS-Hth, ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Văn Thị T về hành vi phạm tội:

Do cần ma túy để sử dụng nên khoảng đầu tháng 4 năm 2024, thông qua mạng xã hội Văn Thị T biết được một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch), sử dụng điện thoại di động số “0797.797.xxx” có bán ma túy nên T đã dùng điện thoại của mình có số thuê bao “0934724828” gọi vào số điện thoại trên để đặt mua ma túy thì được người này trả lời là khi nào có ma túy sẽ liên hệ lại với T.

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 11/4/2023, nam thanh niên trên gọi điện lại cho T báo đã có ma túy, loại “Hồng phiến” bán với giá 01 gói là 3.500.000 đồng. Nghe vậy, T đồng ý mua và hẹn nhau là vào khoảng 15 giờ 00 cùng ngày, đến khu vực cột đèn giao thông đoạn giao nhau giữa đường T và P, thuộc phường T, thị xã H để giao nhận ma túy. Sau đó, T điều khiển mô tô, biển kiểm soát: 75K8-2960 (xe của T) đến điểm hẹn; khi đến nơi thì người bán ma túy gọi điện thoại hướng dẫn T bỏ số tiền 3.500.000 đồng tại bụi cỏ, gần cột đèn rồi đi chỗ khác một lúc, sau đó quay lại vị trí bỏ tiền để lấy ma túy; nghe vậy thì T làm theo hướng dẫn. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, T quay lại thấy có 01 túi ni lông màu xanh bên trong có nhiều viên nén màu đỏ và màu xanh (Thu biết đây là số ma túy đã đặt mua) nên lấy cất giấu vào mũ áo khoác đang mặc trên người thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an T3 (PC04) phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Ngày 16/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T3 đã chuyển toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H để điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 túi ni lông màu xanh bên trong có chứa tổng cộng 188 viên nén hình trụ tròn (trong đó có 186 viên màu đỏ và 02 viên màu xanh), được niêm phong theo đúng quy định;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7Plus, số IMEI: 55353080020690 bên trong có chứa sim điện thoại số 0934.724.xxx được niêm phong theo đúng quy định;
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển kiểm soát: 75K8- 2960.

Tại Bản kết luận giám định số: 253/KL-KTHS ngày 15/4/2024, của Phòng K, Công an tỉnh T3, kết luận:

  • 186 (một trăm tám mươi sáu) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định có tổng khối lượng là 18,4341g (mười tám phẩy bốn ba bốn một gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
  • 02 (hai) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 0,1794g (không phẩy một bảy chín bốn gam), là ma túy, loại Methamphetamine.

H lại đối tượng giám định: 18,2341g (mười tám phẩy hai ba bốn một gam) mẫu bột được nghiền từ 186 (một trăm tám mươi sáu) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định, cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng đối với bị cáo; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Văn Thị T từ 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng đến 07 (B) năm tù; xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì có đủ cơ sở để kết luận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy. Khoảng 15 giờ 30 phút 11/4/2024, tại phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Văn Thị T đang tàng trữ trái phép 18,6135 (mười tám phẩy sáu một ba năm gam), ma tuý, loại Methamphetamine; nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Văn Thị T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn trên là chính xác, đúng pháp luật.

[3] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần, sử dụng rất nguy hiểm cho sức khỏe con người, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Xét bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại về ma túy nhưng vẫn cố tình sử dụng và tàng trữ trái phép ma túy. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét cho bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo là phụ nữ không có chồng, đang nuôi con nhỏ, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; để xem xét quyết định hình phạt.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 18,2341g (mười tám phẩy hai ba bốn một gam) mẫu bột được nghiền từ 186 (một trăm tám mươi sáu) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ gửi giám định, cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định là ma túy là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7Plus, số IMEI: 355353080020690 bên trong có chứa sim điện thoại số 0934.724.xxx là của bị cáo Văn Thị T, bị cáo sử dụng điện thoại liện lạc để mua ma túy, là dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu trắng, biển kiểm soát: 75K8- 2960 của bị cáo Văn Thị T không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Văn Thị T.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo Văn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Văn Thị T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Văn Thị T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 11/4/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên xử:

    Tịch thu tiêu hủy số ma túy 18,2341g (mười tám phẩy hai ba bốn một gam) mẫu bột được nghiền từ 186 (một trăm tám mươi sáu) viên nén đều có dạng hình tròn màu đỏ, cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7Plus, số IMEI: 355353080020690 bên trong có chứa sim điện thoại số 0934.724.xxx của bị cáo Văn Thị Thu

    Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu trắng, biển kiểm soát: 75K8- 2960 cho bị cáo Văn Thị T.

    Hiện vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã H, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Văn Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TTHuế;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh TT Huế;
  • - CQ ĐT thị xã Hương Thủy;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - CQ Thi hành án dân sự Hương Thủy;
  • - CQ Thi hành án hình sự Hương Thủy;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Quý Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 56/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Văn Thị T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger