|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày: 15/05/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải.
Bà Nguyễn Thị Lệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh – Thư ký viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
tham gia phiên toà: Bà Trung Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:
TRẦN VĂN TÈO, Sinh năm: 1997 tại Hoà Bình; Giới tính: Nam; Tên
gọi khác: Không; Nơi ĐKTT và C ở: khu B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghê nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên cha: Trần Văn H, sinh năm: 1971; Họ tên mẹ: Bùi thị T, sinh năm: 1976; Cùng trú tại: khu B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị can là con lớn; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 08/01/2024 -Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 07/01/2024, Trần Văn T1 đang ở nhà bạn thôn P, xã V, huyện H, Hà Nội thì một nam thanh niên (Tèo không biết tên tuổi địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0973.436.xxx gọi đến số điện thoại 0986.664.xxx của T1 để hỏi mua 01 (một) túi ma túy Ketamine và 02 (hai) viên ma túy dạng kẹo, T1 đồng ý bán nhưng do không có sẵn ma túy nên T1 chưa báo giá tiền và bảo người này chờ gọi lại. Sau đó, T1 sử dụng số 0986.664.648 gọi đến số điện thoại 0588.841.xxx của một người đàn ông (Tèo không biết tên tuổi, địa chỉ) do
bạn bè giới thiệu trước đó để hỏi mua 01 (một) túi ma túy Ketamine và 02 (hai) viên ma túy dạng kẹo thì người đàn ông báo giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, T1 gọi lại đến số 0973436398 của nam thanh niên hỏi mua ma túy trước đó và báo giá tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Hai bên thống nhất việc không giao dịch trực tiếp để đảm bảo an toàn và thanh toán trước 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Nam thanh niên mua ma túy để số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) trên ghế đá ở ghế đá cạnh quán S thuộc thôn P, xã V, huyện H, TP . rồi báo T1 đến lấy. Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) còn lại sẽ trả khi nhận ma túy. Sau đó, Trận Văn T1 đi đến khu vực đã thỏa thuận lấy số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) trên ghế đá. (Bút lục 82-103)
Sau đó, T1 gọi lại đến số 0588841234 của người đàn ông bán ma túy để thống nhất việc mua bán ma túy. Tèo để 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) trên ghế đá cạnh quán Sông thuộc thôn P, xã V, huyện H, Hà Nội, người bán ma túy đến lấy tiền rồi để lại ma túy trên ghế đá rồi gọi báo T1 ra lấy. Sau khi lấy được ma túy gồm 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy Ketamin và 02 (hai) viên nén màu xám là ma túy dạng kẹo trên ghế đá do người bán để lại, T1 cho số ma túy trên vào 01 (một) vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng rồi cất giấu vào túi quần bên trái, phía trước đang mặc. (Bút lục 82-103)
Đến khoảng 03 giờ ngày 08/01/2024, T1 gọi điện đến số 0973436398 của nam thanh niên hỏi mua ma túy để báo đã có ma túy, người này gọi lại cho T1 và báo đã để 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) trên ghế đá cũ và bảo T1 đến lấy tiền và để lại ma túy. Đến khoảng 04 giờ 15 phút cùng ngày, Trần Văn T1 đi bộ đến khu vực ghế đá cạnh sau quán Sông, đến nơi T1 thấy trên ghế đá có 01 (một) vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng, T1 biết là bên trong có số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) là tiền của nam thanh niên mua ma túy của T1 để lại. Khi T1 thò tay vào trong túi quần định lấy ma túy để ở ghế đá và cầm tiền cất đi thì bị lực lượng Công an xã V phát hiện bắt quả tang niêm phong, thu giữ toàn bộ tang vật và đưa Trân Văn T1 về trụ sở làm việc. (Bút lục 46-47, 66-67, 82-103)
* Vật chứng thu giữ của Trần Văn T1: 01 (một) vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng kích thước 8,3x56x2,2cm, bên trong có 02 (hai) viên nén màu xám hình elip kích thước 1,2x0,1x0,4cm và 01 (một) túi nilông màu trắng kích thước 6,3x4,3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng kích thước 8,3x56x2,2cm, bên trong có Tiền Ngân hàng N số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím có số imeil: 356.560.100.564.205, số imei2: 356.560.100.633.117 bên trong có lắp sim số 0986.664.648. (Bút lục 46-47)
- Ngày 08/01/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện H ra Quyết định trưng cầu giám định số 98 trưng cầu Phòng K - Công an thành phố H tiến hành giám định đối với hai viên nén và số tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Văn T1.
* Tại bản Kết luận giám định số: 632/KL-KTHS, ngày 17/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: 02 viên nén màu xám đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 0,870 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,270 gam (BL 09).
- Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ của Trần Văn T1: Quá trình điều tra T1 khai nhận vào ngày 08/01/2024, T1 đã mua số ma túy trên của một người đàn ông không quen biết tại thôn P, xã V, huyện H, TP Hà Nội với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, T1 không biết tên tuổi, địa chỉ của người này, chỉ biết là đàn ông, sử dụng số điện thoại 0588.841.xxx. Quá trình điều tra xác minh, xác định chủ thuê bao đăng ký số 0588.841.234 là Nguyễn Quang C1, Sinh ngày: 12/8/2004, HKTT: xóm Đ, xã N, huyện Q, TP .. Quá trình làm việc với anh Nguyễn Quang C1 xác định: Ngày 07/01/2024 và ngày 08/01/2024, C1 sinh sống cùng gia đình tại xóm Đ, xã N, huyện Q, TP .. Anh C1 không đăng ký và sử dụng số thuê bao 0588.841.234, do nhiều lần mất giấy tờ cá nhân nên anh C1 không biết ai sử dụng thông tin của anh để đăng ký. Ngoài ra anh C1 không quen biết ai tên là Trần Văn T1. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. (Bút lục 39-45)
- Đối với đối tượng mua ma tuý của Trần Văn T1: Quá trình điều tra, T1 khai không biết tên tuổi, địa chỉ của đối tượng trên, chỉ biết là đàn ông, sử dụng số điện thoại 0973.436.xxx. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu số điện thoại 0973.436.xxx xác định chủ thuê bao là: Đỗ Thị L, Sinh ngày: 01/01/1985, địa chỉ: thôn L, xã P, huyện Đ, TP .. Quá trình làm việc với chị Đỗ Thị L khai: chị L không đăng ký sử dụng số điện thoại 0973.436.xxx và cũng không cho ai mượn thông tin cá nhân để đăng ký và sử dụng số thuê bao nêu trên. Ngoài ra, chị Đỗ Thị L không biết và không có mối quan hệ gì với Trần Văn T1. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. (Bút lục 27, 28,30-33)
Đối với số điện thoại 0986.664.xxx Trần Văn T1 sử dụng để trao đổi mua bán ma túy: Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu và xác định chủ thuê bao là: Bùi Thị T2 - Sinh năm: 20/8/1976, HKTT: thôn B, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Tại cơ quan điều tra bà Trần Thị T3 khai: Bà T3 là mẹ đẻ của bị can Trần Văn T1, số điện thoại 0986.664.xxx là do Trần Văn T1 dùng thông tin cá nhân của bà để đăng ký và sử dụng, bà T3 không sử dụng số điện thoại nêu trên. Bà T3 không biết việc T1 sử dụng số điện thoại nêu trên để trao đổi mua, bán ma túy. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với Trần Thị T3. (Bút lục 29, 34-35)
Đối với việc sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 07/01/2024 của Trần Văn T1 trước khi bị bắt quả tang. Kết quả xét nghiệm chất ma túy có trong nước tiểu của Trần Văn T1 vào ngày 08/01/2024 có kết quả dương tính với chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn T1 vi phạm Khoản 1, Điều 23, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Ngày 04/4/2024, Công an huyện H ra QĐ xử phạt hành
chính số 99/QĐ-XPHC xử phạt đối với Trần Văn T1 theo đúng quy định. (Bút lục 49, 111-114)
Quá trình điều tra vụ án, bị can Trần Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 30 đến 36 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ cùng các công cụ phương tiện phạm tội; Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại di động thu giữ bị cáo T1 và đối tượng mua ma tuý của T1 dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) số tiền phạm tội.
Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên quá trình thẩm tra thân nhân của bị cáo tại phiên tòa bị cáo khai mẹ là Bùi thị T phù hợp với lý lịch của bị cáo, cáo trạng ghi Trần Thị T3 là nhầm lẫn – không có căn cứ.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết
luận: Khoảng 04 giờ 15 phút ngày 08/01/2024, tại khu vực ghế đá cạnh quán Sông thuộc thôn P, xã V, huyện H, TP ., Trần Văn T1 có hành vi mang 0,870 gam ma túy loại MDMA và 1,270 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích bán trái phép cho một nam thanh niên với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), nhưng chưa kịp bán, thì bị tổ công tác Công an xã V phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, biết pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn mua bán ma túy trái phép cho người khác. Bị cáo mua số lượng ma túy tương đối lớn là 0,870 gam ma túy loại MDMA và 1,270 gam ma túy loại Ketamine về cất giữ nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Với mức độ nguy hiểm của hành vi, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ. Do đó, HĐXX áp dụng quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn là phù hợp.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đang đi học và chưa có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 (một) vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng kích thước 8,3x56x2,2cm, bên trong có 02 (hai) viên nén màu xám hình elip kích thước 1,2x0,1x0,4cm và 01 (một) túi nilông màu trắng kích thước 6,3x4,3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng kích thước 8,3x56x2,2cm là vật cấm lưu hành nên cho tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu xung công 02 (hai) điện thoại: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím có số imeil: 356.560.100.564.205, số imei2: 356.560.100.633.117 bên trong có lắp sim số 0986.664.648, đã qua sử dụng của bị cáo và người mua ma tuý của bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy.
- Tịch thu xung công số tiền bên trong có Tiền Ngân hàng N số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) là số tiền người mua ma tuý của bị cáo dùng vào việc mua ma tuý, nên đây là số tiền dùng vào việc phạm tội.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38
Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T1 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời tù tính từ
ngày bị tạm giữ, tạm giam: 08/01/2024.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng kích thước 8,3x56x2,2cm, bên trong có 02 (hai) viên nén màu xám hình elip kích thước 1,2x0,1x0,4cm và 01 (một) túi nilông màu trắng kích thước 6,3x4,3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng kích thước 8,3x56x2,2cm là vật cấm lưu hành nên cho tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu xung công: 02 (hai) điện thoại: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím có số imeil: 356.560.100.564.205, số imei2: 356.560.100.633.117 bên trong có lắp sim số 0986.664.648, đã qua sử dụng của bị cáo và người mua ma tuý của bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy, đã qua sử dụng của bị cáo và người mua ma tuý của bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy.
- Tịch thu xung công số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) là số tiền người mua ma tuý của bị cáo dùng vào việc mua ma tuý, nên đây là số tiền dùng vào việc phạm tội.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục thi T4 án Dân sự huyện H, thành phố Hà Nội;
- Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Trần Văn T1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333
Bộ luật tố tụng hình sự
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Nga |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
