|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-PT Ngày 30/10/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Kiên và ông Hoàng Tuấn Trọng.
-Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Bà Trương Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/HSPT ngày 17/10/2024 đối với bị cáo Lê Văn D, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HSST ngày 06/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
- Bị cáo có kháng cáo: Lê Văn D, sinh năm 1997; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Xóm S, xã S, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Lê Văn B, sinh năm 1973; Con bà: Đinh Thị M, sinh năm 1976; Vợ: Thái Diệu L, sinh năm 2000; Có 01 con, sinh năm 2019.Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 04/3/2014, Công an huyện M, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với mức phạt tiền 1.500.000 đồng (đã nộp phạt).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2023, chuyển tạm giam ngày 18/12/2023, đến ngày 02/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.
- Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo:
Bà Phạm Thị T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H – Có mặt.
- Bị hại:
Bà Đặng Thị H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn G, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình (đã chết).
Đại diện gia đình bị hại: Ông Đặng Quang H1 (tên gọi khác Đặng Văn H2), sinh năm 1971; Trú tại: Thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình – Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Doanh nghiệp X; Địa chỉ: Tòa nhà H tầng T, phố T, phường T, TP .. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 – Giám đốc. Vắng mặt.
Anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1995; Trú tại: Tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại đoạn đường nối cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và cao tốc C - Ninh Bình thuộc địa phận thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên là khu công trường đang thi công, do chủ đầu tư Sở Giao thông vận tải tỉnh H và nhà thầu Doanh nghiệp X thi công, đắp nền đường. Doanh nghiệp Xuân T3 có hợp đồng lao động với bà Đặng Thị H làm nhiệm vụ chấm chuyến, báo về Doanh nghiệp. Lê Văn D làm lái xe thuê cho chủ xe là anh Nguyễn Thanh T2. D được anh T2 giao lái xe ô tô tải tự đổ, biển số 90C-132.45 mang tên anh Nguyễn Thanh T2. Khi có hợp đồng vận chuyển thì anh T2 sẽ phân công D chở. Ngày 08/12/2023, D điều khiển xe ô tô trên đi chở đất ven đường nối cao tốc thuộc địa phận thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên để chở đến đổ tại vị trí cách đó khoảng 07km. Khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, sau khi điều khiển xe ô tô đổ đất xong thì D điều khiển xe ô tô trở lại vị trí thôn C để lấy đất mang đi đổ. Tại vị trí lấy đất là phần đường đang thi công, đắp nền đường, chưa đưa vào khai thác, sử dụng, D điều khiển xe ô tô lùi, khi đó đầu xe hướng về phía thành phố H, đuôi xe hướng về huyện K. Quá trình điều khiển xe đi lùi, D bật đèn cảnh báo và quan sát hai bên gương chiếu hậu, D nhìn qua gương chiếu hậu bên phải thấy cách khoảng 50m về phía sau xe ô tô của D có một xe ô tô tải biển số 89C - 191.28 do anh Bùi Văn G, sinh năm 1989 ở thôn A, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên, điều khiển đang dừng đỗ ở đó, chuẩn bị đổ cát. Khi đó, D có nhìn thấy bà H đang đứng giữa xe ô tô của D và xe ô tô tải trên, bà H đang dùng điện thoại để chụp ảnh, chấm chuyến đối với xe của anh G, anh G vẫn ngồi trên xe và cầm xé phiếu (liên) thể hiện nguồn gốc số cát của anh chở để đưa cho bà H. Trong lúc anh G xé phiếu thì D điều khiển lùi xe ô tô của mình không quan sát nên phần đuôi xe đã đâm vào bà H làm bà bị ngã nằm úp dưới đất và nằm giữa hai hàng bánh xe kép sau cùng bên phải xe ô tô của D. Lúc này, D nghe tiếng còi xe to, bấm liên tục và có người hô to tiếng, Dương nghĩ đã lùi vào cái gì đó nên tiến xe lên một đoạn thì bánh xe lăn qua người bà H rồi dừng xe và D xuống xe nhìn thấy bà H đang nằm bất tỉnh ở trên mặt đường ngay phía sau hai hàng bánh xe kép bên phải sau cùng của xe ô tô do D điều khiển. Lúc này bà H đang nằm úp, đầu hướng về phía cánh đồng, chân hướng ra đường cao tốc, vệt bánh xe của D điều khiển đi qua người bà H và có chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 9 màu xanh có ốp ngoài nằm dưới lốp bánh xe trong phía sau bên phải của xe ô tô D điều khiển. Sau đó, D cùng mọi người đưa bà H đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh H cấp cứu thì được xác định bà H đã tử vong ngoại viện. D đến Công an huyện K trình báo và khai nhận toàn bộ sự việc xảy ra.
Kết quả điều tra xác định được như sau:
Khám nghiệm hiện trường vụ Vô ý làm chết người thuộc thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên, xác định: Hiện trường xảy ra vụ việc nằm trong công trường đang thi công làm đường gom. Lòng đường được san lấp bằng cát, bề mặt không bằng phẳng rộng 11m. Tiếp giáp phía Đông là lề đường cỏ rộng 2m. Tiếp giáp phía Tây là rãnh thoát nước rộng 1,7m. Phía Nam hướng thành phố H. Phía Bắc hướng huyện K. Lấy cột điện số 27 nằm trên cánh đồng thôn làm mốc cố định, lấy mặt ngoài rãnh thoát nước tiếp giáp đường gom làm mép chuẩn. Đo từ mốc cố định về hướng Bắc 90,9m là hình chiếu của điểm gần nhất của vùng cát lún nghi là vị trí nằm của người bị hại được đánh số thứ (1), điểm xa nhất của số (1) cách mốc cố định 91,7m, điểm gần nhất cách mép chuẩn là 7,7m, điểm xa nhất cách mép chuẩn là 7,5m. Đo từ mốc cố định về hướng Bắc 90,8m là điểm đầu của vết bánh xe lún cát được đánh số thứ (2) là vệt bánh kép, kích thước mỗi vệt bánh rộng 0,3m, khoảng cách giữa hai vệt bánh rộng 0,1m, điểm đầu của số (2) cách mép chuẩn là 7,4m, điểm cuối số (2) trùng với mặt lốp của cụm bánh xe phía sau bên phải. Đo từ mốc cố định về hướng Bắc 90,8m là hình chiếu của điểm gần nhất vùng nhựa bút bi vỡ màu xanh được đánh số thứ (3). Đo từ mốc cố định về hướng Bắc 92,3m là hình chiếu điểm đầu của vết bánh xe lún cát được đánh số thứ (4) là vệt bánh kép, kích thước mỗi vệt bánh rộng 0,3m, khoảng cách giữa hai vệt bánh rộng 0,1m, điểm đầu cách mép chuẩn là 9,3m, điểm cuối trùng với mặt lốp của cụm bánh xe phía sau bên trái. Đo từ mốc cố định về hướng Bắc 82,3m là hình chiếu của tâm trục bánh xe phía trước bên phải xe ô tô biển số 90C-132.45 được đánh số (5), xe đã tắt máy, đầu xe hướng phía Nam, xe không chở hàng. T4 trục bánh xe phía trước bên phải và tâm trục bánh xe phía sau bên phải cách mép chuẩn là 7,5m. Đo từ mốc cố định về hướng Bắc 89,1m là hình chiếu của điện thoại di động nghi của người bị hại được đánh số (6) là điện thoại Redmi 9 màu xanh có ốp ngoài, nằm dưới lốp bánh xe phía sau bên phải. (BL số: 89 - 101).
Khám nghiệm xe ô tô biển số 89C-132.45 loại xe tải tự đổ, màu sơn xanh xác định: Mặt ngoài chắn bùn sau hàng bánh sau cùng bên phải có vùng dấu vết mài trượt, sách bụi bẩn, không phát hiện dấu vết sinh học. Toàn bộ hệ thống bánh xe đều là hàng bánh kép, xe có bốn trục hàng bánh xe, mặt ngoài lốp các bánh xe đều bám dính nhiều cát. Hệ thống khởi động, điều khiển, đèn, còi, phanh, săm, lốp, hai gương chiếu hậu hai bên còn tác dụng.
Tại biên bản khám nghiệm tử thi Đặng Thị H xác định: Tử thi hai mắt nhắm, kết mạc hai bên sung huyết, các lỗ mũi và lỗ tai khô. Lưỡi nằm trong cung răng, không tổn thương. Vùng trán thái dương, má bên trái cách đường giữa 4cm sát chân tóc trán có đám sây sát da bầm tụ máu kích thước (16 x 13)cm. Vùng cổ không tổn thương. Vùng ngực hai bên sát hõm ức có đám sây sát da bầm tụ máu kích thước (29 x 20)cm. Kiểm tra thấy gãy đoạn 1/3 dưới xương ức. Gãy cung trước các xương sườn số 2, 3, 4, 5, 6, 7 bên trái. Gãy cung trước các xương sườn số 2, 3, 4, 5, 6 bên phải, làm lồng ngực bẹp từ trước ra sau. Vùng bụng căng chướng. Vùng lưng bên trái cách đường giữa 1cm sát mỏm cùng vai trái có đám sưng nề bầm tụ máu kích thước (24 x 20)cm. Vùng lưng
bên phải cách đường giữa 4cm, cách chân tóc gáy 9cm có đám sưng nề bầm tụ máu kích thước (26 x 9)cm. Vùng bả vai trái có đám sưng nề bầm tụ máu kích thước (14 x 8)cm. Mặt sau đoạn 1/3 dưới cánh tay, cẳng tay phải có đám sây sát rách da sâu kích thước (19 x 11)cm, kiểm tra thấy gãy hở đoạn 1/3 giữa hai xương cẳng tay phải. Mặt ngoài đoạn 1/3 trền đùi phải có đám sưng nề bầm tụ máu kích thước (10 x 11)cm. Mặt trong đoạn 1/3 dưới đùi phải, cẳng chân phải có đám sưng nề bầm tụ máu kích thước (40 x 16)cm. Mặt ngoài đùi trái có đám sưng nề bầm tụ máu kích thước (25 x 17)cm. Mổ vết thương vùng ngực bên trái thấy da, tổ chức dưới da, cơ vùng ngực bên trái bầm tụ máu, gãy cung trước các xương sườn số 2, 3, 4, 5, 6, 7 bên trái, trong khoang ngực có nhiều máu. Gãy cung trước các xương sườn số 2, 3, 4, 5, 6 bên phải kích thước (8 x 10) cm.
Kết luận giám định tử thi số 253/KLGĐTT-PC09 ngày 12/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Bà Đặng Thị H chết là do chấn thương ngực kín trên người đa chấn thương.
Về vật chứng, tài liệu liên quan trong vụ án: Đã làm rõ chủ sở hữu của xe ô tô biển số 90C-132.45 cùng 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, 01 giấy biên nhận thế chấp xe ô tô trên là của anh Nguyễn Thanh T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại anh T2. 01 điện thoại Redmi 9 màu xanh có ốp ngoài được gắn sim số 0975770923 là của bà H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại ông Đặng Quang H1 (tên gọi khác là Đặng Văn H2), sinh năm 1971 ở thôn B, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình, là đại diện của gia đình bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình nạn nhân đã họp và cử ông Đặng Quang H1 (là anh trai của bà H) đại diện cho gia đình bị hại trong quá trình tham gia tố tụng giải quyết vụ án. Bị can D đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bà H với tổng số tiền 150.000.000 đồng (trong đó của D là 60.000.000 đồng; của anh T2 cho D là 90.000.000 đồng). Gia đình bà H đã nhận đủ số tiền trên và không đề nghị gì về dân sự đối với bị can. Doanh nghiệp X đã hỗ trợ gia đình bà H số tiền là 50.000.000 đồng. Anh T5 và Doanh nghiệp X đều không có đề nghị gì về dân sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm 58/2024/HSST ngày 06/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội “ Vô ý làm chết người”.
- Xử phạt bị cáo: Lê Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2023 đến ngày 02/02/2024, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/8/2024, bị cáo Lê Văn D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Lê Văn D giữ nguyên kháng cáo, thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương.
Người bào chữa cho bị cáo là bà Phạm Thị T - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn D về tội Vô ý làm chết người là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan, mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đối bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn D, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của của bị cáo Lê Văn D đảm bảo về hình thức, trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
-
Xét kháng cáo của của bị cáo Lê Văn D, Hội đồng xét xử phúc thẩm, xét thấy:
- Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai lời khai của đại diện gia đình bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ, ngày 08/12/2023, Lê Văn D điều khiển xe ô tô tải tự đổ, biển số 90C-132.45 tại khu vực công trường đang thi công, đắp nền đường, chưa được đưa vào khai thác, sử dụng thuộc thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Khi điều khiển lùi xe ô tô, D quan sát thấy có bà Đặng Thị H đang đứng chấm chuyến nhưng do chủ quan,
quá tự tin nghĩ rằng bị cáo lùi xe tránh được bà H nên bị cáo tiếp tục điều khiển lùi xe thì phần đuôi xe đã đâm vào bà H làm bà bị ngã nằm úp dưới đất và nằm giữa hai hàng bánh xe kép sau cùng bên phải xe ô tô của bị cáo và bánh xe này lăn qua người bà H. Hậu quả dẫn đến bà H tử vong do chấn thương ngực kín trên người đa chấn thương. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Kim Động xét xử bị cáo về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
-
Về hình phạt:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tích cực tác động cùng gia đình đến thăm viếng, động viên và khắc phục hậu quả, bồi thường tổn thất cho gia đình người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đại diện cho gia đình bị hại đã tự nguyện có đơn đề nghị xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và không đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị Lê Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX xét thấy, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, vợ bị cáo lại đang mang thai; gia đình và bản thân bị cáo thuộc hộ nghèo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ, phúc thẩm, bị cáo đều thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Gia đình người bị hại có đơn xin miễn truy cứu TNHS cho bị cáo. Do đó, HĐXX có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo như đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý và đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa.
[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Tòa án.
-
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn D, sửa bản án hình sự sơ thẩm 58/2024/HSST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
Căn cứ: khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1,2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội “ Vô ý làm chết người”.
- Xử phạt bị cáo: Lê Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn D cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện đúng quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Bị cáo Lê Văn D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Tuấn Trọng |
Nguyễn Thị Hương |
|
Nguyễn Trung Kiên |
|
Bản án số 56/2024/HS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vô ý làm chết người
- Số bản án: 56/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vô ý làm chết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LVD
