|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-PT Ngày 27 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Giang;
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Quang Vũ;
Ông Bùi Xuân Trường.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23/8 và ngày 27/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:59/2024/TLPT-HS ngày 22/7/2024 đối với bị cáo Lưu Đức M. Do có kháng cáo của bị cáo Lưu Đức M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Lưu Đức M; Sinh ngày: 23/3/2006 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Bố đẻ: Lưu Q, sinh năm 1983; Mẹ đẻ: Lê Thị P, sinh năm 1983; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu. (có mặt tại phiên tòa).
Tính đến ngày phạm tội (ngày 23/8/2023) bị cáo được 17 tuổi 05 tháng. Đến ngày xét xử sơ thẩm bị cáo đã trên 18 tuổi.
Các bị cáo Đặng Minh T, Lê Công N, Nguyễn Trọng Q, Nguyễn Quốc D, Đặng Hải N1, Hà Đình Trung K, Lê Khổng Việt A, Phạm Quang H, Nguyễn Tuấn A1, Lương Hồng N2, Mai Anh T1, Nguyễn Giang A2, Nguyễn Hoài N3 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo, không bị kháng nghị tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của các Bị cáo:
Khoảng 09 giờ sáng ngày 23/8/2023, tại cổng Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Đ, do mâu thuẫn cá nhân, Nguyễn Duy T2 sinh ngày 09/02/2007 ở khu C, xã P, huyện Đ là học sinh của Trung tâm với Trần Nhật H1 sinh ngày 17/02/2008 ở khu L, xã H, huyện Đ xảy ra xô xát đánh nhau. Quá trình xô xát, H1 dùng mũ bảo hiểm, ống nhựa vụt T2 nhưng không trúng và bị T2 dùng dao chém vào lưng. Bực tức vì bị T2 gây thương tích, nên trưa cùng ngày, H1 đã nhắn tin cho T2, hẹn đến 21 giờ cùng ngày gặp nhau ở xã P để đánh nhau. T2 đồng ý. Sau đó H1 gặp và nhắn tin rủ một số đối tượng khác gồm Đặng Minh T sinh ngày 26/02/2007 và Nguyễn Quốc D sinh ngày 23/02/2007 đều ở khu L, xã C, huyện Đ; Phạm Quang H sinh ngày 21/02/2007, Nguyễn Hoài N3 sinh ngày 08/01/2006 và Lương Hồng N2 sinh ngày 04/10/2005 đều ở khu Đ, xã V, huyện Đ; Trần Gia P1 sinh ngày 19/02/2008 ở khu Đ, thị trấn Đ, huyện Đ; Lê Khổng Việt A sinh ngày 23/02/2007 ở khu P, xã T, huyện Đ; N sinh ngày 09/12/2006 ở khu E, xã T và Trần Xuân B sinh ngày 16/5/2008 ở khu B, xã S, huyện Đ đi đánh nhau. Các đối tượng này đều đồng ý. Đặng Minh T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax lắp sim số 0961089468 của mẹ đẻ là chị Nguyễn Thị Thanh V lập một nhóm trò chuyện trên ứng dụng M1, thêm vào tài khoản của Trần Nhật H1, Phạm Quang H, Trần Quang H2, Nguyễn Quốc D, Trần Gia P1, Trần Xuân B, Lương Hồng N2 và Vũ Anh T3 sinh ngày 10/12/2007 ở khu G M, xã C, mục đích để bàn luận việc đi đánh nhau vào tối cùng ngày. Sau đó, các đối tượng tiếp tục nhắn tin, gọi điện, gặp gỡ rủ thêm nhiều người khác cùng đi. Cụ thể như sau:
Phạm Quang H thêm 05 người gồm: Hà Việt Hoài N4h ngày 30/10/2009 ở khu Đ, xã C; C ngày 25/9/2007, Hà Đình Trung K ngày 20/01/2007 đều ở khu E, xã M, huyện Đ; Nguyễn Xuân P2 ngày 12/02/2009 ở khu A, xã M; Mai Anh Th ngày 21/3/2006 ở khu C, xã Y, huyện Đ và V ngày 16/9/2008 ở khu G, xã C, huyện Đ. Đặng Minh Thêm 02 người gồm: Đặng Hải N1h ngày 17/7/2005 ở khu Đ, xã C Lê Công N ngày 21/9/2006 ở khu B, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Đặng Hải N1 thêm Nguyễn Anh T4 ngày 15/9/2007 ở khu C, xã C. Trần Gia P1 thêm Vũ Xuân H3h ngày 19/06/2008 ở khu I, xã S. Tất cả những người được rủ đi đều đồng ý.
Chiều cùng ngày, Trần Nhật H1 Đặng Minh T, Nguyễn Quốc D, Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 13/7/2008 ở khu T, xã H Nguyễn Văn N5h ngày 27/9/2008 ở khu D, xã H đi thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, để chuẩn bị hung khí đi đánh nhau. Khi đi, H1g theo 01 con dao bầu dài 26cm của nhà mình. T1 mua thêm 02 thanh kim loại hình trụ tròn, đường kính 02cm rồi đem đến quán sửa chữa xe máy của anh Trần Văn T5 năm 2002 ở phường Đ, thành phố Tnh T5 thành 02 đoạn tuýp sắt dài 1,3m và 01 đoạn tuýp sắt dài 2,34m, sau đó, hàn dao bầu vào đầu tuýp sắt dài 2,34m tạo thành dao tự chế, (thường gọi là phóng lợn). Làm xong, cả nhóm đi về thị trấn Đ. T khiển xe mô tô chở H1 theo toàn bộ số hung khí trên đến nhà Nguyễn Đức V1 ngày 01/4/2009 ở khu T, thị trấn Đ cất giấu. H1g rủ V1 02 người khác có mặt tại nhà V1 đó là Đỗ Hồng Đ ngày 21/4/2008 ở khu M, xã H, huyện Đ Nguyễn Tuấn A1h ngày 24/02/2005 ở khu S, xã Hnh nhau vào tối cùng ngày. Cả ba đều đồng ý. V1 các hung khí mà H1 cất giấu tại phòng ngủ của mình.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, như đã hẹn, tất cả các đối tượng trên, trừ Trần Quang H2, V1, Đ, Nguyễn Tuấn A1 có mặt tại bãi đất trống ở khu I, xã S, huyện Đ. Lê Khổng Việt A u khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision không gắn biển số chở Trần Nhật H1 nhà V1 các hung khí đã gửi trước đó. H1 thêm 01 dao quắm của nhà V1 quay lại điểm hẹn trên. H1 01 tuýp sắt cho D, 01 tuýp sắt cho Phạm Quang H, 01 dao quắm cho N bản thân tự cầm dao phóng lợn. Trần Gia P1 Việt Hoài N4 người cũng cầm đến 01 balo trong đựng nhiều vỏ chai bia Hà Nội bằng thủy tinh. Đến nơi, P1 alo của mình cho Nguyễn Anh T4 Lương Hồng N2g đến 01 gậy rút ba khúc dài 61,5cm đến rồi đưa cho Trần Nhật H1, H1 gậy rút này ở cốp để đồ phía trước xe mô tô do Việt A u khiển. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm xuất phát đi xã P. Lúc này, Trần Xuân B ý bỏ về, không tham gia cùng nhóm trên nữa.
Cả nhóm đi xe mô tô hàng hai, hàng ba thành đoàn dài, chở hai, chở ba không đội mũ bảo hiểm đi theo đường Quốc lộ 2 rồi rẽ vào đường Q để đến xã P T2 nhau. Trong nhóm lúc này có thêm các cháu Đinh Thị Thúy N6h ngày 26/10/2006 ở khu A, xã N; cháu Ngô Hồng A3h ngày 18/12/2007 ở khu 5, xã M cháu Nguyễn Quốc H4 ngày 27/4/2006 ở khu A, xã H. Cả ba cháu này đều được bạn trong nhóm trên rủ đi chơi, trên đường đi mới biết là đi đánh nhau, nhưng do tò mò nên vẫn đi cùng.
Khi đi, T khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-419.16 chở D sau cầm tuýp sắt; Nguyễn Hoài N3 u khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-161.07 chở Phạm Quang H tuýp sắt; Lương Hồng N2 u khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-414.63 chở Trần Nhật H1 phóng lợn; Đặng Hải N1 u khiển xe mô tô nhãn hiệu Majesty biển số 19K3-6336 chở Nguyễn Anh T4 balo đựng vỏ chai bia; Trần Gia P1 khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade chở Vũ Xuân H3 Nguyễn Khắc H5; Mai Anh T1 u khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19E1-366.12 chở Chử Đức V2 uyễn Xuân P2; Nguyễn Giang A2 u khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-262.87 chở Hà Việt Hoài N4 i sau cầm balo đựng vỏ chai bia; Vũ A4 khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19L2-3349 chở Nguyễn Quốc H4; Vũ Anh T3 khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-134.19 chở Lê Công N sau cầm dao quắm; Lê Khổng Việt A u khiển xe mô tô chở Đinh Thị Thúy N6; Hà Đình Trung K khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-408.50 chở Ngô Hồng A3. Nguyễn Văn N5 u khiển xe gắn máy nhãn hiệu Cubthailand biển số 19AD-013.02 đi một mình. Trần Quang H2 g điều khiển xe đi một mình đi theo nhóm trên nhưng đi chậm phía sau, đi được một đoạn xe bị hỏng nên dừng lại, không tham gia cùng nhóm trên nữa.
Một lúc sau, Đỗ Hồng Đ theo 01 dao mèo cài ở vị trí để chân phía sau của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-408.50 chở Nguyễn Anh T4 1 bãi đất trống ở xã S đã hẹn, tuy nhiên, do thấy nhóm của H2 đi trước nên cả ba tự tìm đường đuổi theo nhóm của H2 xã Phú Lâm
Về phía Nguyễn Duy T2, sau khi hẹn H2 h nhau, T2 thêm 03 người bạn khác gồm Vũ Ngọc D1 h ngày 17/09/2007 ở khu V, xã P; Nguyễn Phùng H6 ngày 29/11/2006 ở khu C, xã P Trần Minh N7 ngày 13/01/2006 ở khu V, xã P g đi đánh H2 mình. Cả ba đồng ý. T2 khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-410.85 chở H6, D1 u khiển xe gắn máy biển số 19AĐ-036.66 chở N7 cả bốn người cùng đi đến đoạn đường Quốc lộ 70 đoạn thuộc địa phận khu Cợi H2. Khi phát hiện nhóm của Trần Nhật H1 trên đường quốc lộ 70 hướng đi xã Bông người, nhóm của T2 ng xe ở bãi đất trống rồi đi lên nấp ở đồi cây ven đường nhằm trốn tránh, đợi nhóm H1 y về sẽ ném đất, đá, sỏi vào nhóm này.
Nhóm của Huy đi chuyển qua xã P đến xã B g vẫn không thấy nhóm của T2 ảo nhau quay về. Lúc này, do đã được Trần Nhật H1 điện rủ trước nên Nguyễn Trọng Q ngày 08/9/2005 ở khu 8, xã B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển số (đã tự tháo biển số 19E1-421.48 trước khi đi) chở Lưu Đức M ngày 22/3/2006 ở tổ A, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu ùng nhóm của H1 xã B về hướng thị trấn Đ. Khi cả nhóm quay lại đến khu vực gần đồi cây nơi nhóm T2 p thì bị nhóm này nhặt đất, đá, sỏi ném xuống. Thấy vậy, cả nhóm dừng xe lại, Trần Nhật H1 phóng lợn đưa cho Q cùng Q, D, Việt A, N7, Lương Hồng N2 y lên đồi để đuổi đánh nhóm của T2. Khi dồn đuổi, D theo tuýp sắt, Việt A gậy rút, Lê Công N dao quắm. Do nhóm của T2 vào sâu trong đồi cây, không đuổi kịp nên những người này quay xuống. Thấy nhóm T2 i 01 xe mô tô và 01 xe gắn máy, Q phóng lợn đập vào xe gắn máy biển số 19AĐ-036.66, D tuýp sắt vụt. Việt A gậy rút cậy biển số của xe này khiến phần lẫy dè chắn bùn bị gãy, nứt mặt nhựa bảo vệ biển số. Sau đó, tất cả quay xuống đường, cùng nhóm trên đi theo đường cũ về thị trấn Đ. Trên suốt đường về cả nhóm vẫn đi thành đoàn dài như trước. Trong quãng đường đi và về, có thời điểm Phạm Quang H tuýp sắt cho P2 D tuýp sắt cho Vũ Xuân H3, sau đó H3 Nguyễn Khắc H5 nhau cầm tuýp sắt trên, khi về thì đưa lại cho Trần Nhật H1; Trần Nhật H1, Q nhau cầm phóng lợn; sau đó Q Trần Nhật H1 thay nhau cầm dao mèo; N1 nhau cầm dao quắm; Nguyễn Giang N8 vỏ chai bia ném xuống mặt đường. Ngoài ra, cũng có thời điểm Nguyễn Tuấn A1 lái với Đ, điều khiển xe chở V1; Trần Nhật H1 u khiển xe bốc đầu, một số đối tượng lạng lách, đánh võng. Các đối tượng đều không có giấy phép lái xe, hầu hết không đội mũ bảo hiểm, đi dàn hàng hai, hàng ba trên đường. Hành vi của các đối tượng đã bị người tham gia giao thông quay lại, đăng tải lên mạng xã hội, gây tâm lý lo lắng, phẫn nộ của người dân.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động xác minh, triệu tập các đối tượng trên đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng đều thừa nhận hành vi của mình như đã nêu trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ các đồ vật, tài sản liên quan đến hành vi vi phạm. Cụ thể:
Thu giữ tại hiện trường: 01 vỏ chai bia Hà Nội bằng thủy tinh do Nguyễn Anh T4 đi, vứt lại.
Thu giữ của Trần Nhật H1 dao tự chế (Phóng lợn), 01 tuýp sắt; của Nguyễn Đức V1 dao quắm; của Lương Hồng N2 gậy rút ba khúc. Đây đều là các hung khí mà các đối tượng cầm theo khi đi đánh nhau.
Thu giữ của Nguyễn Duy T2 n dao dài 35cm mà T2 ng để chém gây thương tích cho Trần Nhật H1.
Thu giữ của Đặng Minh T e mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-419.16 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax lắp sim số 0961089468; của Lê Khổng Việt A xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision không gắn biển số; của Đặng Hải N1 xe mô tô nhãn hiệu Majesty biển số 19K3-6939; của Lương Hồng N2 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-414.63; của Vũ Xuân H3 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade gắn biển số 22B1-075.85; của Chử Đức V2 mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 19E1-366.12; của Mai Anh T1 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-436.09; của Vũ Anh H7 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19L2-3949; của Nguyễn Hoài N3 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-161.07; của Vũ Anh T3 mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-134.19; của Vũ Ngọc D1 xe gắn máy nhãn hiệu Espero biển số 19AĐ-036.66; của Nguyễn Trọng Q e mô tô nhãn hiệu Honda Wave không gắn biển số.
Đối với điện thoại mà các bị can và các đối tượng khác sử dụng để nhắn tin, gọi điện rủ nhau đi đánh nhau, qua xác minh xác định đều là của bố mẹ các bị can và các đối tượng, hiện không còn nội dung gì có liên quan nên Cơ quan điều tra không thu giữ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-262.87 mà Nguyễn Giang A2 u khiển là xe của mẹ đẻ Anh là chị Nguyễn Thị T6, chiếc xe này chị T6 o cho bố của Anh là anh Nguyễn Minh G m thuê ở xa nên Cơ quan điều tra không thu giữ.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-408.50 mà Đ khiển đi đánh nhau, bố đẻ của Đ iều khiển đi làm thuê ở xa, Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đối với xe gắn máy biển số 19AN-020.95 do Trần Quang H2 u khiển là tài sản của H2 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19E1-410.85 mà Nguyễn Duy T2 khiển là xe T2 của bạn là Nguyễn Duy K1, do không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không thu giữ.
Đối với 01 dao mèo, Đ àm mất nên không thu giữ được. Đối với 01 tuýp sắt do P2 ùng các vỏ chai bia Hà Nội bằng thủy tinh mà Nguyễn Anh T4 à Việt Hoài N4 khi đi đánh nhau, các đối tượng khai đã vứt bỏ, không nhớ vứt ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Ngày 31/8/2023, Cơ quan điều tra yêu cầu định giá đối với thiệt hại của xe gắn máy biển số 19AĐ-036.66 của Vũ Ngọc D1 Lê Khổng Việt A, Nguyễn Quốc D, Nguyễn Trọng Q ập phá vào tối ngày 23/8/2023. Ngày 05/9/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ luận:
“Hư hỏng, thiệt hại của xe gắn máy biển số 19AĐ-036.66 tại thời điểm tháng 8/2023 là 150.000₫".
Ngày 15/9/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của Trần Nhật H1. Tuy nhiên, H1 g gia đình có đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự đối với cháu T2, không chấp hành quyết định dẫn giải đi giám định thương tích.
Xét thấy, các đối tượng đã có hành vi bàn bạc, tụ tập, chuẩn bị hung khí, điều khiển nhiều xe mô tô đi hàng hai, hàng ba, thành đoàn dài, không có giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm, chở hai, chở ba, cầm theo nhiều hung khí nguy hiểm, lạng lách, đánh võng, bốc đầu, di chuyển trên tuyến đường Q và Quốc lộ G, đi qua địa phận các xã S, thị trấn Đ, các xã N, T, P, Bằng L mục đích gây thương tích cho người khác. Khi thấy xe gắn máy của nhóm T2 i, đã có hành vi đập, phá xe. Hành vi đó của các đối tượng trên đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn, xã hội, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông, nên ngày 23/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các đối tượng đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự gồm Đặng Minh T, Nguyễn Quốc D, Đặng Hải N1, Hà Đình Trung K, Lê Khổng Việt A, Phạm Quang H, Nguyễn Tuấn A1, Lương Hồng N2, Mai Anh T1, Nguyễn Giang A2, Nguyễn Hoài N3 Lê Công N, Lưu Đức M, Nguyễn Trọng Q ội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và điều tra làm rõ toàn bộ nội dung vụ án như đã nêu trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 và thông báo sửa chữa, bổ sung bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/TB-TA ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 58, khoản 1,6 Điều 91, khoản 1 điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lưu Đức M.
Tuyên bố bị cáo: Lưu Đức M các bị cáo khác phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Về hình phạt:
+ Xử phạt bị cáo Lưu Đức M Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án còn áp dụng hình phạt đối với các bị cáo khác trong vụ án cũng như xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/5/2024 bị cáo Lưu Đức M ơn kháng cáo với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ hình phạt tù giam chuyển sang hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm; Áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Đức M; Về hình phạt giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo; Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Đức M Mười tám) tháng tù nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Lưu Đức M Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Lưu Đức M đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Lưu Đức M vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lưu Đức M chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lưu Đức M g phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, cho Bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Lưu Đức M trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lưu Đức M hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người làm chứng, thời gian, địa điểm nơi xảy ra tội phạm, kết luận giám định vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 30 phút đến khoảng 23 giờ đêm ngày 23/8/2023, Đặng Minh T, Nguyễn Quốc D, Đặng Hải N1, Hà Đình Trung K, Lê Khổng Việt A, Phạm Quang H, Nguyễn Tuấn A1, Lương Hồng N2, Mai Anh T1, Nguyễn Giang A2, Nguyễn Hoài N3 Lê Công N, Lưu Đức M, Nguyễn Trọng Q một số đối tượng đã có hành vi bàn bạc, chuẩn bị hung khí, tụ tập, điều khiển nhiều xe mô tô đi hàng hai, hàng ba thành đoàn dài, không có giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm, chở hai, chở ba, cầm theo nhiều hung khí nguy hiểm, lạng lách, đánh võng, bốc đầu, di chuyển trên tuyến đường Q và Quốc lộ G, đi qua địa phận các xã S, thị trấn Đ, N, T, P, Bằng L mục đích gây thương tích cho người khác. Tại khu vực khu C, xã P, sau khi dồn đuổi Nguyễn Duy T2, Vũ Ngọc D1, Nguyễn Phùng H6 rần Minh N7 đồi cây, Nguyễn Trọng Q, Nguyễn Quốc D ê Khổng Việt A có hành vi dùng hung khí đập phá chiếc xe gắn máy biển số 19AĐ-036.66 của D1 thiệt hại về tài sản trị giá 150.000đ. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Đặng Minh T, Nguyễn Quốc D, Đặng Hải N1, Hà Đình Trung K, Lê Khổng Việt A, Phạm Quang H, Nguyễn Tuấn A1, Lương Hồng N2, Mai Anh T1, Nguyễn Giang A2, Nguyễn Hoài N3, Lê Công N, Lưu Đức M, Nguyễn Trọng Q ội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lưu Đức M, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để tuyên phạt bị cáo Lưu Đức M Mười tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Lưu Đức M cấp thêm các tài liệu chứng cứ mới gồm giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo đứng tên ông Lưu Văn L là Nguyễn Thị M2, đơn xin xác nhận nhân thân ngày 02/5/2024, quyết định về chế độ một lần với quân nhân tham gia kháng chiến chống mỹ cứu nước của ông Lưu Văn L1 ng nội của bị cáo, quyết định của chủ nhiệm T9 cấp một lần đối với ông Nguyễn Văn T7 ụ ngoại của bị cáo, bà Cao Thị D2 cụ nội của bị cáo đã có công với nước, ngoài ra bị cáo còn nộp thêm 01 biên lai thu tiền của UBMTTQ xã Bằng luân có nội dung bị cáo Lưu Đức M hộ quỹ vì người nghèo năm 2024 với số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) ngày 23/8/2024. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cần áp dụng cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 05 tháng, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, vai trò của bị cáo trong vụ án không đáng kể, có nơi cư trú rõ ràng, nên lần phạm tội này không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật và đường lối xét xử hình sự đối với người dưới 18 tuổi.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Đức M. Sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Lưu Đức M chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Đức M.
Sửa một phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về hình phạt chính đối với bị cáo Lưu Đức M.
[2] Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Đức M tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 6 điều 91, khoản 1 điều 101; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lưu Đức M Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng . Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lưu Đức M Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Lưu Đức M trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu g việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Lưu Đức M đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Lưu Đức M vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lưu Đức M chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lưu Đức M g phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Quang Vũ Bùi Xuân Trường |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Nơi nhận
- - VKSND tỉnh Phú Thọ;
- - TAND H. Đoan Hùng;
- - VKSND H. Đoan Hùng;
- - Công an H. Đoan Hùng;
- - Chi cục THADS H. Đoan Hùng;
- - TB UBND nơi bị cáo cư trú;
- - Bị cáo;
- - Lưu HS; Lưu VP.
Bản án số 56/2024/HS-PT ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 56/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Đức M phạm tội gây rối trật tự công cộng
