Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-PT

Ngày: 25-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thiện Tâm

Bà Huỳnh Thị Phượng

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hữu Thái Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Hữu T, tên gọi khác: không; sinh ngày 12/12/2001. Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Áp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: không; Con ông: Nguyễn Hữu S; và bà: Nguyễn Thị Diễm T1; bị cáo có 01 người em tên Nguyễn Ngọc Thảo M, sinh năm 2007. Bản thân chưa vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 12/6/2018, Công an xã N, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi “Gây mất trật tự công cộng”.

Ngày 06/7/2018, Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính (phạt cảnh cáo) về hành vi “Gây mất trật tự công cộng”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 24/01/2024 đến nay, bị cáo có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc không có liên quan đến kháng cáo không triệu tập đến tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2023, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Hữu T, nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán kiếm lời. T đến khu vực biên giới gần cửa khẩu T2 huyện Đ, tỉnh Long An gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch mua 10 túi pháo bi (pháo banh), mỗi túi chứa 100 viên và 06 hộp pháo hoa nổ 49 với tổng số tiền là 8.600.000 đồng, rồi đem về nhà cất giữ trong phòng ngủ để bán. T sử dụng mạng xã hội facebook với trang cá nhân tên "Nguyễn Hữu T" để đăng tin, bài viết nhằm giới thiệu pháo, ai có nhu cầu mua thì nhắn tin trực tiếp qua trang facebook của T, thống nhất số lượng, chủng loại, giá cả rồi hẹn địa điểm giao nhận, T sẽ mang pháo đi giao. Mỗi túi pháo bi (100 viên) T mua với giá 350.000 đồng, bán ra với giá 600.000 đồng, thu lãi 250.000 đồng; Pháo hoa nổ loại 49 T mua với giá 850.000 đồng/hộp, bán ra với giá 1.000.000 đồng/hộp, thu lãi 150.000 đồng/hộp.

Khoảng 17 giờ ngày 23/01/2024, người đàn ông sử dụng nick facebook tên "Thiện Nhoc" nhắn tin cho T đặt mua 1/2 túi pháo bi và 05 hộp pháo hoa 49 với số tiền 4.350.000 đồng, T đồng ý và hẹn giao, nhận pháo vào chiều ngày 24/01/2024 tại quán C thuộc khu phố C, thị trấn T, huyện T. Đến khoảng 18 giờ 40 phút ngày 24/01/2024, T điều khiển xe mô tô, biển số 62G1-217.41 chở 51 viên pháo bi và 04 hộp pháo hoa 49 (giao ít hơn số lượng đặt hàng ban đầu do T chỉ còn 04 hộp pháo hoa 49) đựng trong túi nylon màu đen chở đến quán C để giao nhưng chưa kịp giao, nhận pháo thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Qua khám xét nơi ở của Nguyễn Hữu T, phát hiện, tạm giữ thêm 188 viên pháo bi và 01 viên đạn đã rỉ sét. T khai nhận số pháo bị là do T mua, cất giữ để bán kiếm lời, riêng 01 viên đạn đã rỉ sét là do Tân nhặt được ở ven đường rồi mang về nhà cất giữ làm kỷ niệm.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu T khai nhận đã bán 02 hộp pháo hoa nổ 49 và 750 viên pháo bi, nhưng không nhớ rõ đã bán cho ai thu lợi bất chính số tiền 2.175.000đ, bị lạc mất 11 viên pháo bi.

Tại kết luận số 1155/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phân viện Khoa học Hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong có 49 ống hình trụ tròn gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng là 07kg.

01 (một) túi nylon chứa các vật hình cầu, dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, có gắn đoạn màu xanh gửi giám định là pháo nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ. Khối lượng là 250g.

03 (ba) túi nylon chứa các vật hình cầu, dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu sắc, có gắn đoạn màu xanh gửi giám định là pháo nổ. Khi đốt phát ra tiếng nổ. Khối lượng là 01kg.

Ngày 25/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đạn đối với 01 viên đạn thu giữ qua khám xét nơi ở của Nguyễn Hữu T, hiện chưa có kết luận.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 15/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, đã xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 24/01/2024.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng khác.

Ngày 01/4/2024, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Nguyễn Hữu T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã nêu và xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Do mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nặng đối với hành vi của bị cáo gây ra, nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Thủ tục kháng cáo của bị cáo trong thời gian luật định, những yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.

Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng quy định pháp luật, không oan cho bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ hình phạt: Ngoài tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” đã được cấp sơ thẩm xem xét, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo còn bổ sung thêm các tình tiết khác như: Ông nội của bị cáo là Trương Công H là liệt sỹ, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đã được địa phương xác nhận, bà nội của bị cáo đã lớn tuổi, bị bệnh, bị cáo là người trực tiếp chăm sóc cho bà nội, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy mức án Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T giữ nguyên hình phạt Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã xử đối với bị cáo.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 24/01/2024.

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T trong thời hạn pháp luật quy định, yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân tỉnh Long An thụ lý xét xử theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/01/2024, tại trước quán C thuộc khu phố C, thị trấn T, huyện T, Nguyễn Hữu T đang thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm là 51 viên pháo bi và 04 hộp pháo hoa 49 để đi bán cho người khác thì bị lực lượng tuần tra Công an huyện T phát hiện bắt giữ, tạm giữ phương tiện, tang vật liên quan, khám xét nơi ở của Nguyễn Hữu T, phát hiện, tạm giữ thêm 188 viên pháo bi mà T tàng trữ để bán kiếm lời, qua giám định khối lượng pháo nổ thu giữ của Nguyễn Hữu T là 8,25kg.

[3] Hành vi đó của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, không oan

[4] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo đã bổ sung thêm các tình tiết như: Ông nội của bị cáo là Trương Công H là liệt sỹ, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đã được địa phương xác nhận, bà nội của bị cáo đã lớn tuổi, bị bệnh, bị cáo là người trực tiếp chăm sóc cho bà nội, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cấp sơ thầm chưa xem xét. Vì vậy kháng cáo của bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T, sửa một phần hình phạt Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đối với bị cáo Nguyễn Hữu T.

Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định nên tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng hình phạt bổ sung là có căn cứ.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm..

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T.

Sửa một phần hình phạt Bản án Hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 24/01/2024.

Áp dụng Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hữu T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 25/6/2024 để đảm bảo cho việc thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các khoản khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật sau khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Long An (01b);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An (01b);
  • - TAND huyện (02b);
  • - VKSND huyện (01b);
  • - CQĐT Công an cấp huyện (01b);
  • - Chi cục THADS huyện (01b);
  • - Bị cáo (01b);
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú (01b);
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về hình sự - buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 56/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T. Sửa một phần hình phạt Bản án Hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger