Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------------------------

Bản án số: 56/2024/HS-PT

Ngày: 16-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Cường.

Các Thẩm phán: Ông Trần Thanh Tòng;

Ông Nguyễn Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Minh Huy- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Nhất T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo: Đặng Nhất T, sinh ngày 08/4/1991, tại tỉnh Tây Ninh; nơi thường trú: Số A ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện tại: Số D đường B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao đài; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc H, sinh năm 1955 và bà Trần Mỹ L, sinh năm 1954; có vợ là Đinh Thị Anh T1, sinh năm 1990; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Viết T2, sinh ngày 25/3/1985; nơi cư trú: Số I hẻm F, đường N, khu phố F, Phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (do không có kháng cáo nên Toà án không triệu tập);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút, ngày 30/8/2023 tại Văn phòng C1, địa chỉ số B đường C thuộc khu phố A, Phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, ông Trần Duy L1 là Công chứng viên đã tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thửa đất số 627, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, diện tích 464,8 m² của Đặng Nhất T, sinh ngày 08/4/1991, nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh chuyển nhượng cho anh Nguyễn Viết T2, sinh ngày 25/3/1985, nơi cư trú: Số I hẻm F đường N thuộc khu phố F, Phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, trị giá chuyển nhượng là 100.000.000 đồng, T và anh T2 đã ký tên vào từng trang của hợp đồng, kèm theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 015645 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 24/12/2020, thửa đất số 627, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, diện tích 464,8 m², người sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là Đặng Nhất T. Trong lúc kiểm tra hồ sơ Công chứng viên nghi ngờ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất do T cung cấp là giả nên trình báo Công an.

* Kết luận giám định số 1382/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “GẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT” số DA 015645, số vào sổ cấp GCN: CS11219, ngày 24 tháng 12 năm 2020 cần giám định là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất giả.

Kết quả điều tra chứng minh được, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 015645 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 24/12/2020, thửa đất số 627, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: Khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, diện tích 464,8 m2, người sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là Giấy CNQSDĐ) là Đặng Nhất T được bà Trần Mỹ L (mẹ ruột của T) cho tặng T từ năm 2020 nhưng do sợ T đem cầm cố hay bán đất nên không đưa Giấy CNQSDĐ cho T giữ mà giao lại cho chị Đặng Thị Thúy Y (chị ruột của T) cất giữ.

Khoảng tháng 02/2023 T nói bà L đưa Giấy CNQSDĐ để đi thế chấp lấy tiền trả nợ nhưng bà L không đưa, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ, ngày 28/6/2023 T lên mạng xã hội Facebook để tìm người đặt mua Giấy CNQSDĐ giả, T nói chuyện với người có tài khoản Facebook là “dịch vụ giấy tờ”, người này đồng ý làm với giá 5.000.000 đồng. Sau đó, T chụp hình giấy đất photo gửi cho người này và cung cấp số điện thoại, địa chỉ khi nào có giấy sẽ gửi về địa chỉ của T. Khoảng 5 ngày sau, T nhận được giấy đất giả qua dịch vụ chuyển phát nhanh và trả tiền cho nhân viên vận chuyển. Sau khi mua được giấy đất giả, T tìm cách tráo đổi với giấy thật mà chị Y đang giữ nhưng không được.

Ngày 28/8/2023 T điện cho anh Huỳnh M, sinh năm 1990, nơi cư trú: khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh hỏi có quen ai cho mượn tiền thì giới thiệu để T mượn 100.000.000 đồng và thế chấp bằng sổ đỏ. Ngày 30/8/2023 M cho T số điện thoại 0911.122.xxx của Nguyễn Hữu C, sinh năm 1985, nơi cư trú: khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh để trao đổi vay tiền. Sau khi xem giấy CNQSDĐ T gửi, C liên lạc với anh Nguyễn Viết T2 và nói có người muốn vay 100.000.000 đồng, lãi 04%/tháng, có tài sản là giấy CNQSDĐ và làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thời hạn vay 06 tháng, sau thời gian này nếu không trả số tiền trên sẽ làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh T2 đồng ý. Khoảng 09 giờ cùng ngày anh T2 đến Văn phòng C1 Trần Duy L1 để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với T. Sau khi đã ký tên vào từng trang của hợp đồng chưa giao tiền cho T thì Văn phòng công chứng phát hiện và mời về trụ sở Công an làm việc.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Bphone 3, màu đen, số seri: VNBKJ1800669, có số Imei: 359329095560158 và số Imei: 358329092807826, đã qua sử dụng, bị hỏng khe sim.

Qua xác minh Đặng Nhất T đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 627, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, nhưng đang thế chấp để vay vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân N, nên không tiến hành kê biên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã xử:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 15; Điều 57; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Nhất T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Đặng Nhất T 02 (hai) năm tù.
  2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Nhất T phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”, xử phạt bị cáo Đặng Nhất T 02 (hai) năm tù.
  3. Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Đặng Nhất T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, bị cáo Đặng Nhất T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; cho rằng bị cáo làm thầu xây dựng chưa quyết toán được công trình, nhưng thiếu tiền công thợ; có xin mẹ bị cáo đưa GCNQSDĐ để vay tiền nhưng mẹ bị cáo không cho nên bị cáo có ý định làm giả GCNQSDĐ do mình đứng tên vay vốn bên ngoài để trả tiền công thợ. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đã nộp xong tiền phạt bổ sung, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và xét xử bị cáo tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi xét xử cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” từ 06 tháng đến 09 tháng tù và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan” từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo sớm trở về nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Nhất T xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

[2] Về tội danh: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa bị cáo Đặng Nhất T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Do muốn có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, ngày 30/8/2023, Đặng Nhất T dùng thủ đoạn gian dối sử dụng Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả thực hiện hợp đồng chuyển nhượng để lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Viết T2 số tiền 100.000.000 đồng thì bị phát hiện. Do đó, hành vi của bị cáo T có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan” theo điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định tội danh đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng:

[4.1] Khi quyết định hình phạt cho các bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá mức độ nguy hiểm của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời, cũng xem xét đánh giá tính chất của vụ án, ý thức phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nên đã quyết định mức hình phạt cho bị cáo với mức hình phạt tương đối phù hợp. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T 02 tội danh là đúng pháp luật. Tuy nhiên, quyết định mức hình phạt 02 năm tù đối với bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan” là nghiêm khắc đối với bị cáo. Bị cáo do bị cáo thiếu hiểu biết pháp luật, làm ăn thua lỗ nên không có tiền trả nợ, được cha, mẹ 01 phần đất nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản gốc) do mẹ bị cáo giữ, bị cáo mượn giấy để vay vốn ngân hàng nhưng mẹ bị cáo không cho, do túng quẫn nên bị cáo vay tiền bên ngoài với lãi suất cao nhưng người cho vay buộc bị cáo phải công chứng chuyển nhượng phần đất bị cáo đứng tên, khi công chứng thì phát hiện giấy bị cáo sử dụng là giấy giả, Văn phòng công chứng trình báo công an xử lý đối với bị cáo.

[4.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[4.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã nộp số tiền 15.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án và hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ, mẹ già. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.4] Hành vi của bị cáo chưa gây thiệt hại nhưng tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho bị cáo nên tòa án cấp phúc thẩm cần xem xét thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Từ đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ nên chấp nhận.

[6] Về án phí: bị cáo T kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự theo quy định.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 343 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đặng Nhất T;

- Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 15; Điều 57; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Nhất T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Đặng Nhất T 09 (chín) tháng tù.
  2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Nhất T phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan”, xử phạt bị cáo Đặng Nhất T 09 (chín) tháng tù.
  3. Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Đặng Nhất T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
  4. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Đặng Nhất T không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND tp. Tây Ninh;
  • - Công an tp. Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS tp. Tây Ninh;
  • - Phòng PV06.CA tỉnh TN;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp TTN;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng KTNV&THA.TATTN;
  • - Phòng Hành chánh tư pháp TAND tỉnh;
  • - Lưu: hồ sơ, tập án, lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Văn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan)

  • Số bản án: 56/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo sử dụng giất đất giả để ký hợp đồng chuyển nhượng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger