Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HS-PT

Ngày: 11-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân

Các Thẩm phán: Ông Bùi Quang Năng

Ông Hồ Đức Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 110/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

* Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 06/01/1996, tại xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Trọng H; Sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Lệ T1; (Đã chết); Anh chị em ruột: Có 5 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trần Thị Ngọc N; Sinh năm 1991 (Đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

    • Ngày 10/01/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 03/2014/HS-ST;
    • Ngày 17/4/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 27/2014/HS-ST;
  2. Tổng hợp với bản án số 03/2014/HS-ST ngày 10/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm tù;

    - Ngày 26/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 85/2014/HS-ST. Tổng hợp với bản án số 27/2014/HS-ST ngày 17/04/2014 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm 06 tháng tù; chấp hành án xong ngày 02/9/2017.

    (Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trong 03 vụ án trên, Nguyễn Văn T đều chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích).

    - Ngày 22/9/2010, bị Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” phạt tiền 750.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 280/QĐ-XPHC (đã nộp phạt xong ngày 05/10/2010).

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Văn T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/8/1984, tại xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn V; Sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị C; Sinh năm 1962; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ thứ nhất: Nguyễn Thị T3; Sinh năm 1988 (Đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2012; Vợ thứ hai: Nguyễn Thị T3; Sinh năm 1987, có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến ngày 05/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

  4. Trương Thế A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23/6/1992, tại xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trương Thế H1; Sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị M; Sinh năm 1965; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 27/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Trương Thế A: Bà Nguyễn Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt)

* Bị hại:

  • Ông Đặng Văn H2; Sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
  • Ông Trần Thanh N2; Sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ E, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
  • Ông Nguyễn Mậu T4; Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
  • Bà Trần Thị B; Sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Nguyễn Văn T5; Sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
  • Bà Trương Thị H3; Sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong hai ngày 14/01/2024 và 16/01/2024, trên địa bàn các huyện L, N, C và T, tỉnh Hà Tĩnh, bằng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối là đang đánh bạc bị thua, lừa cầm cố điện thoại Iphone 15 Promax giả cho các nhân viên cây xăng dầu nhằm lấy số tiền cao hơn nhiều lần so với giá trị thật của chiếc điện thoại đó, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2 và Trương Thế A đã 04 lần chiếm đoạt của 04 bị hại với tổng số tiền là 42.000.000 đồng, cụ thể: chiếm đoạt của anh Đặng Văn H2, sinh năm 1996, trú tại phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 8.000.000 đồng; chiếm đoạt của anh Trần Thanh N2, sinh năm 1997, trú tại tổ E, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 17.000.000 đồng; chiếm đoạt của anh Nguyễn Mậu T4, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố C, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 7.000.000 đồng và chiếm đoạt của chị Trần Thị B, sinh năm 1994, trú tại thôn N, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 10.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hành vi lừa đảo, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T2 đã sử dụng 04 hóa đơn giá trị gia tăng giả của Công ty Cổ phần T6 (có thông tin phù hợp với những chiếc điện thoại Iphone 15 Promax giả mà các bị cáo đưa ra để cầm cố) để tạo lòng tin cho các bị hại khi đồng ý cho các bị cáo cầm cố tài sản.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; bị cáo Trương Thế A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm d khoản 2 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 51 (Năm mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 18/01/2024);

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm d khoản 2 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến ngày 05/7/2024;

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Trương Thế A 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 26/01/2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 04/9/2024 bị cáo Nguyễn Văn T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Ngày 04/9/2024 bị cáo Trương Thế A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; Ngày 09/9/2024 bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo toàn bộ bản án vì cấp sơ thẩm xét xử không đúng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2 và Trương Thế A vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi xem xét, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T2.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Trương Thế A, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.

  2. Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

    Đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội cho rằng đây chỉ là giao dịch dân sự giữa bị cáo với những bị hại khác, bị cáo không có ý định lừa đảo mà sẽ quay lại để chuộc điện thoại đã cầm cố. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa đã thể hiện Nguyễn Văn T đã nhiều lần đưa ra các thông tin gian dối là đang đánh bạc bị thua nhằm sử dụng điện thoại Iphone 15 Promax giả cầm cố cho các nhân viên cây xăng dầu để lấy số tiền cao hơn nhiều lần so với giá trị thật của chiếc điện thoại đó. Sau khi lấy được tiền Nguyễn Văn T đã chia cho Nguyễn Văn T2 và Trương Thế A sử dụng và không quay lại trả tiền để chuộc lại điện thoại đã cầm cố như thỏa thuận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 51 (năm mươi mốt) tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn T là đúng người, đúng tội nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo.

    Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T2 và Trương Thế A: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ. Các bị cáo có đầy đủ năng trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, lợi dụng lòng tin của người khác các bị cáo đã 04 lần tham gia lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong đó Nguyễn Văn T2 còn sử dụng 04 hóa đơn giá trị gia tăng giả để chiếm đoạt của nhiều bị hại với tổng số tiền 42.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trên địa bàn, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T2 không xuất trình thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới, bị cáo Trương Thế A nộp thêm Đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn. Xét vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng bị cáo Nguyễn Văn T2 là người thực hành tích cực trong việc thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; bị cáo Trương Thế A đồng phạm với vai trò là người giúp sức thứ yếu cho các bị cáo T và T2 trong quá trình thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại.

    Do đó, mức án 36 (Ba mươi sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 là đúng người, đúng tội nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Trương Thế A tự nguyện đầu thú, các lần phạm tội của bị cáo đều là tội phạm ít nghiêm trọng và là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét về

    hoàn cảnh gia đình bị cáo Trương Thế A hiện rất khó khăn, thuộc hộ nghèo. Bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi bố mẹ già, đau ốm (bố bị thần kinh nặng), đã tự nguyện khắc phục hậu quả, các bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được cải tạo giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình là cũng đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T2 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Trương Thế A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận.

  4. Về hiệu lực thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T2.

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Trương Thế A, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; bị cáo Trương Thế A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm d khoản 2 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 51 (Năm mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 18/01/2024);

    Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm d khoản 2 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình

    phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến ngày 05/7/2024.

    Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Thế A 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Trương Thế A cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình bị cáo có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trương Thế A không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn T2 mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

    Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - PV06 - Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - CA; VKS; TA; THA cấp sơ thẩm;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 56/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T và đồng phạm phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger