Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 30-7-2024

V/v tranh chấp Hôn nhân

và Gia đình về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thiện Đào Duyên

Bà Cao Thị Diệu Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân Gia đình về ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trần T, sinh năm: 1986.

    Địa chỉ: Số D, Trần Văn V, khóm B, phường D, TP ., tỉnh Đ.

  2. Bị đơn: Chị Hồ Thủy T1, sinh năm: 1986.

    Địa chỉ: Số D, Trần Văn V, khóm B, phường D, TP ., tỉnh Đ.

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Kim P, sinh năm: 1959.

    Địa chỉ: Số E, Khóm H, Phường B, TP ., tỉnh Đ.

Nguyên đơn anh T, bị đơn chị T1 có mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà P vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Nguyễn Trần Tiến trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị T1 tìm hiểu, quen biết nhau vào đầu năm 2012, sau đó cả hai tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại U, TP S vào ngày 13/10/2012. Sau thời gian kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, đôi lúc có cự cãi nhỏ nhưng không nghiêm trọng, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn lớn, lý do chị T1 xúc phạm cha mẹ anh T, có lời nói đe dọa người thân của anh T, nói dì anh T xúi giục anh T ly hôn và bán nhà cho dì, chị T1 có mối quan hệ xã hội phức tạp. Từ tháng 02/2024 đến nay anh T không còn sống chung với chị T1, nay anh T xác định không còn tình cảm với chị T1, anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh T yêu cầu ly hôn với chị T1.

- Về nuôi con chung: Anh T và chị T1 có 02 con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Thiên P1 sinh ngày 02/8/2017, hiện 02 con đang sống với chị T1. Sau khi ly hôn, anh T đồng ý giao 02 con cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Trần T đồng ý cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/01tháng/01 con.

- Về chia tài sản chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị T1 đối với thửa đất số 107, tờ bản đồ số 13 và căn nhà tại số D, Trần Văn V, khóm B, phường D, TP ., tỉnh Đồng Tháp thì anh T không đồng ý toàn bộ, vì đây là tài sản cá nhân anh T.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, Anh T không còn yêu cầu, ý kiến gì khác.

Tại các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay bị đơn chị Hồ Thủy T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian tìm hiểu, tổ chức đám cưới, sống chung vợ chồng, đăng ký kết hôn thì chị T1 thống nhất với phần trình bày của anh T. Sau thời gian kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, không có cự cãi, đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, lý do tính tình chị T1 và anh T không còn phù hợp, quan điểm sống khác nhau, anh T không lo làm ăn, từ tháng 02/2024 anh T không ở chung nhà với chị T1 và 02 con. Nay chị T1 xác định không còn tình cảm với anh T nên chị Tiên đồng ý ly hôn với anh T.

- Về con chung, chị T1 và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Thiên P1, sinh ngày 02/8/2017, hiện 02 con đang sống với chị T1. Sau khi ly hôn, chị T1 yêu cầu được nuôi 02 con, chị T1 yêu cầu anh Nguyễn Trần T cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/01tháng /01 con.

- Về chia tài sản chung: Chị T1 xác định, chị T1 và anh T có tài sản chung là căn nhà tại số D, Trần Văn V, khóm B, phường D, TP ., tỉnh Đ và quyền sử dụng đất tại thửa 107, tờ bản đồ số 13, diện tích 88,4 m² (căn nhà gắn liền thửa đất số 107), đất và nhà tọa lạc tại khóm B, phường D, TP ., tỉnh Đ. Nguồn gốc tài sản chung này là do bà ngoại anh T là bà Phạm Thị R tặng cho 02 vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Sau đó, anh T và chị T1 có vay ngân hàng TMCP Q – CN Đồng Tháp – P2 (V1) với số tiền là 500.000.000 đồng, anh T nhận 300.000.000 đồng, chị T1 nhận 200.000.000 đồng. Chị T1 sử dụng 200.000.000 đồng này để làm ăn, mua bán, còn anh T sử dụng 300.000.000 đồng này để làm gì chị T1 không biết. Sau khi vay tiền ngân hàng chị T1 và anh T thỏa thuận theo đó anh T có nghĩa vụ trả lãi ngân hàng, còn chị T1 có nghĩa vụ nuôi con, nhưng sau đó anh T không trả gốc và lãi cho ngân hàng mà âm thầm bán (chuyển nhượng) căn nhà số D gắn liền với thửa đất 107 cho bà Trần Kim P với giá 500.000.000 đồng, việc anh T bán nhà, đất chị T1 không biết. Thửa đất 107 này thì cá nhân anh T đứng tên quyền sử dụng đất nhưng tài sản này được bà R tặng cho trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung vợ chồng. Chị T1 có đơn yêu cầu phản tố chia đôi tài sản chung này, chị yêu cầu được quản lý, sử dụng căn nhà số D và thửa đất số 107, tờ bản đồ số 13, chị đồng ý trả cho anh T ½ giá trị căn nhà số D và thửa đất số 107, tờ bản đồ số 13 theo giá Hội đồng định giá định. Sau đó, chị đã nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí (yêu cầu phản tố) số 272/TB-TA ngày 16/5/2024 của TAND TP Sa Đéc vào ngày 16/5/2024, nhưng đến nay chị chưa nộp biên lai tiền tạm ứng án phí phản tố cho Tòa án do chị không có tiền đóng nhưng chị T1 vẫn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết trong vụ án này. Ngoài tài sản là căn nhà tại số D và thửa đất 107 thì các tài sản khác thì chị T1 và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Kim P có đơn xin vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án có văn bản trình bày ý kiến:

Bà P là dì của anh Nguyễn Trần T. Nguồn gốc thửa đất số 107, tờ bản đồ 13, diện tích 88,4m², đất tọa lạc tại Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Đ trước đây là của cha mẹ bà P, sau khi cha bà P mất thì mẹ bà P là bà Phạm Thị R đứng tên sử dụng đất. Sau đó, bà Phạm Thị R làm hợp đồng tặng cho anh T quyền sử dụng đất và tài sản gắn tiền với đất ngày 08/5/2014 Thời điểm bà R làm hợp đồng tặng cho anh T thì anh T và chị T1 kết hôn rồi nhưng việc tặng cho này là tặng cho riêng cá nhân anh T đứng tên để làm nhà thờ, không có cho T1. Sau khi bà R làm hợp đồng tặng cho T đứng tên thửa đất số 107, tờ bản đồ 13 thì vợ chồng T lấy thửa đất số 107 thế chấy vay tiền Ngân hàng TMCP Q- PGD Sa Đéc số tiền là 500.000.000 đồng nhưng sau đó đến hạn trả tiền không có khả năng chi trả nên T đề nghị bà P trả tiền ngân hàng thay cho T và T sang tên thửa đất số 107 cho bà P đứng tên, để bà P giữ lại nhà đất thờ cúng cha mẹ bà P, nên bà P đồng ý trả tiền ngân hàng cho T, hiện cha mẹ bà P đang được thờ cúng tại số nhà D, Trần Văn V, Khóm B, phường D, Tp S trên thửa đất số 107. Đến ngày 20/10/2022 thì anh T có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà P, hiện bà P đang đứng tên thửa đất 107 này. Đối với vụ án ly hôn giữa anh T và chị T1 thì bà P không có tranh chấp, yêu cầu gì. Trong trường hợp có tranh chấp với anh T và chị T1 thì bà P yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến khi xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hôi đồng xét xử:

Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Trần T. Công nhận thuận tình ly hôn giữa các đương sự. Anh Nguyễn Trần T và chị Hồ Thủy T1 ly hôn.

- Về nuôi con chung: Công nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự. Chị Hồ Thủy T1 được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Thiên P1, sinh ngày 02/8/2017. Anh Nguyễn Trần T cấp dưỡng nuôi mỗi cháu là 1.000.000 đồng/tháng.

- Về chia tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí và chi phí tố tụng khác: Đương sự nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Nguyễn Trần T khởi kiện yêu cầu ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hôn nhân gia đình về ly hôn”. Bị đơn chị Hồ Thủy T1 cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung.

[2.1]. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Trần T và chị Hồ Thủy T1 chung sống vợ chồng từ năm 2012, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn vào 13/10/2012 tại Ủy ban nhân dân phường U, thành phố S nên quan hệ hôn nhân của anh chị được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa anh T và chị T1 đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống, tính tình không còn hợp nhau, từ tháng 02/2024, anh T và chị T1 sống ly thân, anh T không còn ở chung với chị T1 và 02 con. Nay, giữa anh T và chị T1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không thể hàn gắn, tiếp tục trở lại chung sống với nhau. Anh T yêu cầu ly hôn, chị T1 cũng đồng ý. Xét thấy việc thuận tình ly hôn giữa anh T và chị T1 là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh T và chị T1.

[2.2]. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hội đồng xét xử xét thấy: Khi ly hôn, chị T1 yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Thiên P1, sinh ngày 02/8/2017, hiện 02 con đang sống chung với chị T. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh T cũng đồng ý giao cháu N và P1 cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay các cháu N và P1 đang sống ổn định với chị T1, có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nguyện vọng của cháu N cũng mong muốn được tiếp tục chung sống với chị T1. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy nên tiếp tục giao các cháu N và P1 cho chị T1 trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu N và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho các cháu trong sinh hoạt, học tập. Anh T được quyền tới lui thăm nom con, không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Về cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Bảo N và Nguyễn Thiên P1: Anh T và chị T1 thống nhất mức cấp dưỡng cho mỗi con Nguyễn Bảo N và Nguyễn Thiên P1 số tiền 1.000.000 đồng/tháng, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh T, chị T1.

[2.3]. Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn chị T1 xác định, chị T1 và anh T có tài sản chung là căn nhà tại số D, Trần Văn V, khóm B, phường D, TP., tỉnh Đ và quyền sử dụng đất tại thửa 107, tờ bản đồ số 13, diện tích 88,4 m² (căn nhà gắn liền thửa đất số 107), đất và nhà tọa lạc tại khóm B, phường D, TP ., tỉnh Đ. Chị T1 có đơn yêu cầu phản tố chia đôi tài sản chung theo đó chị T1 yêu cầu được quản lý, sử dụng căn nhà số D và thửa đất số 107, tờ bản đồ số 13, chị đồng ý trả cho anh T ½ giá trị căn nhà số D và thửa đất số 107, tờ bản đồ số 13 theo giá Hội đồng định giá định. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với yêu cầu phản tố của chị T1, Tòa án đã tống đạt thông báo nộp tiền tạm ứng án phí (yêu cầu phản tố) số 272/TB-TA ngày 16/5/2024 của TAND TP Sa Đéc, nhưng hết thời hạn thông báo nhưng chị T1 không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí và Tòa án đã ra thông báo trả lại đơn khởi kiện (yêu cầu phản tố) cho chị T1. Do đó, đối với yêu cầu phản tố của chị T1 là không có căn cứ xem xét trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp chị T1 có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[2.4]. Về nợ chung: Chị T1 và anh T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Kim P, bà P trình bày, giữa anh T và bà P có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 20/10/2022, bà P đã thanh toán xong tiền cho anh T, hiện bà P đang đứng tên thửa đất 107 tờ bản đồ số 13, diện tích 88,4 m² (căn nhà gắn liền thửa đất số 107), đất và nhà tọa lạc tại khóm B, phường D, TP ., tỉnh Đ, nhưng trong vụ án ly hôn giữa anh T và chị T1 thì bà P không có tranh chấp, yêu cầu gì. Trong trường hợp có tranh chấp với anh T và chị T1 thì bà P yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về án phí: Anh T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Trần T. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Trần T và chị Hồ Thủy T1.
  2. Về nuôi con chung:
    • Chị Hồ Thủy T1 được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Thiên P1, sinh ngày 02/8/2017, hiện 02 con đang sống với chị T1. Về mức cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Bảo N và Nguyễn Thiên P1, anh Nguyễn Trần T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Bảo N và Nguyễn Thiên P1 mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng (Một triệu đồng/tháng). Thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con Nguyễn Bảo N và Nguyễn Thiên P1 thành niên đủ 18 tuổi.
    • Anh Nguyễn Trần T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.
  3. Về chia tài sản chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Anh Nguyễn Trần T và chị Hồ Thủy T1 xác định không có nên không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Anh Nguyễn Trần T nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Đối với số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Trần T đã nộp ngày 17/01/2024 theo biên lai thu số 0003951 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, được trừ vào án phí phải nộp, sau khi khấu trừ, anh Nguyễn Trần T phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn T2 Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân Gia đình về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu bên a công nhận thuận tình ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger