|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-12-2024 Về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1 Bà Vũ Thị Phương Hạnh
2 Ông Đặng Văn Đê
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Cẩn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị N – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 257/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Thu H, sinh năm 1985. HKTT: 39 P, tổ D, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Cao Q, sinh năm 1982. HKTT: 39 P, tổ D, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/9/2024, trong qúa trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị Thu H trình bày:
- Về hôn nhân: Bà H và ông Nguyễn Cao Q chung sống vợ chồng từ năm 2009, chung sống tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn năm 2009 tại UBND xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Sau khi cưới vợ chồng vào Nhà T làm ăn, đến năm 2014 vào thành phố B làm ăn và sinh sống (nuôi hào, làm trại giống). Năm 2018 vợ chồng mua nhà đất ở phường L, thành phố B, đến năm 2019 bán nhà đi thuê nhà ở tại tổ A, khu phố B, phường P, thành phố B đến nay. Trong thời gian chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có chung quan điểm sống, tính cách khác nhau, mâu thuẫn về tiền bạc, không tìm được tiếng nói chung, thường hay cãi nhau. Từ năm 2018 ông Q cờ bạc phải bán nhà, bán đùng, không chịu làm ăn. Mâu thuẫn không thể hàn gắn được, bà H không đồng ý hòa giải đoàn tụ với ông Q. Tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Bà H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn ông Q.
- Về con chung: Bà H và ông Q có 02 con chung tên Nguyễn Cao Kỳ P, sinh ngày 18/11/2011 và Nguyễn Cao S, sinh ngày 05/10/2016. Cuộc sống ổn định về mọi mặt. Ly hôn bà H yêu cầu nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết
Theo bản tự khai ngày 14/10/2024, trong qúa trình tố tụng bị đơn ông Nguyễn Cao Q trình bày:
- Về hôn nhân: Ông Q đồng ý với bà H về quá trình kết hôn, chung sống và mâu thuẫn xảy ra. Ông Q và bà H chung sống năm 2009, có đăng ký kết hôn năm 2009 tại UBND xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Về mâu thuẫn: Ông Q thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn như bà H trình bày. Trong thời gian từ cuối năm 2018 gia đình có nhiều áp lực về kinh tế, ông Q tìm cơ hội kiếm tiền, nhưng công việc không thuận lợi nên không kiếm được tiền phụ giúp vợ con, kinh tế gia đình do một mình bà H lo. Do áp lực kinh tế nên cuộc sống của vợ chồng không có tiếng nói chung, khác nhau về quan điểm sống. Trước đây ông Q có chơi cờ bạc dẫn đến khoản nợ khoảng 200.000.000đ đến 300.000.000đ, bà H cũng hỗ trợ trả nợ, hiện còn nợ hơn 100.000.000đ. Vợ chồng sống ly thân khoảng 5 tháng nhưng vẫn ở chung nhà. Ông Q nhận thấy mình có những sai lầm cần sửa đổi, ông Q đề nghị cho thời hạn 02 tháng để ông Q và bà H tự giải quyết, nếu không được thì sẽ tự nguyện ly hôn.
- Về con chung: Ông Q và bà H có 02 con chung tên Nguyễn Cao Kỳ P, sinh ngày 18/11/2011 và Nguyễn Cao S, sinh ngày 05/10/2016. Cuộc sống ổn định về mọi mặt. Ly hôn ông Q yêu cầu nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Q không yêu cầu giải quyết
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, tiến hành thu thập đủ chứng cứ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng, vắng mặt không có lý do chính đáng, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, không tự giải quyết được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H. Về con chung: Giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Cao Kỳ P và Nguyễn Cao S. Không giải quyết về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung. Bà H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Ngô Thị Thu H có đơn khởi kiện xin ly hôn, yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Hiện nay ông Nguyễn Cao Q đang cư trú tại thành phố B. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị đơn ông Nguyễn Cao Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Q.
[2] Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Thu H và ông Nguyễn Cao Q chung sống vợ chồng từ năm 2009, chung sống tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn năm 2009 tại UBND xã M, huyện K, tỉnh Thái Bình. Do vậy, hôn nhân giữa bà bà H và ông Q là hợp pháp.
Về mâu thuẫn: Sau khi cưới vợ chồng bà H và ông Q vào N sinh sống, đến năm 2014 vào thành phố B sinh sống, làm ăn(sản xuất giống và mua bán hào). Bà H và ông Q đều xác nhận trong cuộc sống có nhiều mâu thuẫn, phát sinh từ năm 2018. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có chung quan điểm sống, tính cách khác nhau, mâu thuẫn về tiền bạc, thường hay cãi nhau. Ông Q có làm ăn, chơi cờ bạc dẫn đến nợ lần, kinh tế gia đình do một mình bà H lo lắng và phải chịu nhiều áp lực. Vợ chồng đã sống ly thân. Ông Q không muốn ly hôn nhưng không có giải pháp, bà H kiên quyết ly hôn.
Do vậy có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Ngô Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Cao Q.
[3] Về con chung: Bà H và ông Q có 02 con chung tên Nguyễn Cao Kỳ P, sinh ngày 18/11/2011 và Nguyễn Cao S, sinh ngày 05/10/2016. Cuộc sống ổn định về mọi mặt. Nhận thấy, kinh tế gia đình do một mình bà H chăm lo, cháu P đang học lớp 8, cháu S học lớp 1 tại thành phố B. Cháu P và cháu S đều có nguyện vọng ở với mẹ. Như vậy, có đủ cơ sở để giao cho bà Ngô Thị Thu H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con 02 con chung tên Nguyễn Cao Kỳ P, sinh ngày 18/11/2011 và Nguyễn Cao S, sinh ngày 05/10/2016 là bảo đảm tốt nhất hiện nay. Bà H và ông Q không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[5] Về án phí: Bà Ngô Thị Thu H phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147 ,227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Thu H đối với ông Nguyễn Cao Q về việc ly hôn, nuôi con.
- Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Cao Q
- Về con chung: Giao cho bà Ngô Thị Thu H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Cao Kỳ P, sinh ngày 18/11/2011 và Nguyễn Cao S, sinh ngày 05/10/2016. Các đương sự không có yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng); nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0003225, ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Anh |
Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Thu Huyền ly hôn Nguyễn Cao Quý
