Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08 - 8 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Lê Thị Thu Sương.
    2. Ông Trần Hoàng Liên.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 167/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1991.

    Nơi cư trú: Khu phố 5, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở: Khu phố 6, phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin vắng mặt).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Chính B, sinh năm 1978 (vắng mặt).

    Nơi cư trú: Khu phố 5, phường B, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Bà Nguyễn Thị V trình bày:

Bà và Ông Nguyễn Chính B đến với nhau hoàn toàn tự nguyện, gia đình có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Văn Hải, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn năm 2015. Sau khi kết hôn bà và ông B chung sống cùng cha mẹ bà tại khu phố 6, phường V, thành phố P. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế nguyên nhân là do ông B không phụ giúp bà chăm lo cho gia đình mà ham mê cờ bạc, bà đã khuyên can nhiều lần nhưng ông B vẫn không thay đổi. ông B thiếu nợ của nhiều người và liên tục có người đến nhà đòi nợ, sau đó ông B bỏ đi đâu một thời gian dài không về nhà. Từ năm 2019 cho đến nay bà và ông B không còn sống chung, hai vợ chồng không gặp gỡ nhau, cũng không ai đặt vấn đề hàn gắn quay lại. Do thời gian mâu thuẫn kéo dài và không còn chung sống cùng nhau nên tình cảm vợ chồng không còn, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.

Về con chung: Bà và ông B có 02 con chung là Nguyễn Bích N, sinh ngày 01/10/2015 và Nguyễn Thành P, sinh ngày 28/10/2018. Ly hôn, bà đề nghị giao 02 con cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, ông B không phải cấp dưỡng nuôi con. Các con đang sống với bà, bà làm thợ may thu nhập khoảng hơn 7.000.000 đồng/tháng và gia đình có trồng nho, táo tổng thu nhập khoảng hơn 15.000.000 đồng/tháng, nên bà có đủ điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 22/4/2024, bị đơn ông Nguyễn Chính B trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị V tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân. Vợ chồng có tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Văn Hải năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng ông chung sống tại khu phố 5, phường B, thành phố P. Cuối năm 2015 thì chuyển về sống tại phường V, thành phố P. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn tuy nhiên đây chỉ là những mâu thuẫn nhỏ thường gặp trong cuộc sống, hai bên có lời qua tiếng lại, chứ không có mâu thuẫn gì trầm trọng đến nỗi vợ chồng phải ly hôn. Ông và bà V không còn sống chung với nhau từ Tết nguyên đán cho đến nay. Nay bà V nộp đơn ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn vì ông còn thương vợ, thương con.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Bích N, sinh ngày 01/10/2015 và Nguyễn Thành P, sinh ngày 28/10/2018. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông đồng ý giao 02 con cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, ông không phải cấp dưỡng nuôi con, nhưng được quyền thăm nom con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán, Thư ký, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn Ông Nguyễn Chính B. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; Bị đơn ở phường B, thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Ngày 11/7/2024, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chỉ có lời khai. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về tranh chấp hôn nhân: Bà V và ông B kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Văn Hải, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 50 ngày 11/5/2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà V trình bày: Từ năm 2018 thì bà và ông B phát sinh mâu thuẫn về vấn đề kinh tế nguyên nhân là do ông B không phụ giúp bà chăm lo cho gia đình mà ham mê cờ bạc, thiếu nợ của nhiều người, bà đã khuyên can nhiều lần nhưng ông B vẫn không thay đổi. Từ năm 2019 cho đến nay bà và ông B không còn sống chung.

Ông B biết bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông B không đồng ý ly hôn vì cho rằng vợ chồng chỉ xảy ra mâu thuẫn nhỏ thường gặp trong cuộc sống, hai bên có lời qua tiếng lại, chứ không có mâu thuẫn gì trầm trọng.

Căn cứ lời trình bày và các chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong thời gian sống chung bà V và ông B có xảy ra nhiều mâu thuẫn hàng ngày, từ đầu năm 2024 cho đến nay ông, bà không còn sống chung cùng nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Ngoài ra, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông B không đến Tòa án để làm việc, có thái độ bỏ mặc không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, hôn nhân giữa bà V và ông B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V.

[2.2] Về con chung: Xét yêu cầu được nuôi con của bà V, thấy rằng: Từ trước đến nay cháu N và P đều do bà V là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu N có nguyện vọng sống với mẹ. bà V làm thợ may thu nhập khoảng hơn 7.000.000 đồng/tháng và có thêm thu nhập từ trồng nho, táo nên đủ điều kiện để nuôi con. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu N và P cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà V không yêu cầu ông B thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Tài sản chung và nợ chung: Bà V và ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị V.

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Chính B.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bích N, sinh ngày 01/10/2015 và Nguyễn Thành P, sinh ngày 28/10/2018 cho bà Nguyễn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông Nguyễn Chính B không phải cấp dưỡng nuôi con do bà V không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000333 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thâm.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - CCTHADS TP. PR- TC;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - UBND phường Văn Hải, TP.PR-TC
  • ( GCNKH số: 50, ngày 11/5/2015);
  • - Lưu hồ sơ; án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 56/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger