Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 56/2024/DS-ST
Ngày 15-5-2024
V/v: Đòi lại tài sản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Trần Minh Châu;
    2. Ông Trần Thạch Cương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Vinh - là Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Công Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 472/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp đòi tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần T2. Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền số 10/2023/GUQ-GĐNM ngày 03/7/2023), vắng mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Tố Q, sinh năm 1958. Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Diệp Văn C, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số E, đường B - B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (văn bản ủy quyền ngày 19/10/2023), vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Văn V, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/7/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, anh Nguyễn Văn T trình bày:

Trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2014, bà Nguyễn Tố Q có ký với Công ty cổ phần T2 (gọi tắt là Công ty) 05 hợp đồng ứng vốn như phía Công ty đã giao nộp cho Tòa. Theo các hợp đồng này, thì phía Công ty cung ứng vốn cho bà Q để đầu tư trồng mía, sau khi thu hoạch mía thì bà Q bán lại cho Công ty và tiền cung ứng vốn sẽ được trừ vào sản lượng mía do bà Q nhập. Trường hợp sản lượng mía không đủ để cấn trừ thì bà Q có nghĩa vụ thanh toán bằng tiền mặt. Sau khi chấm dứt hợp đồng, thì ngày 29 tháng 8 năm 2019, Công ty thực hiện đối chiếu công nợ và thông báo cho bà Q biết số tiền ứng vốn bà Q còn nợ lại Công ty là 42.494.577 đồng và tiền lãi phát sinh từ các hợp đồng ứng vốn, bà Q cũng ký xác nhận đối với số tiền nợ nêu trên. Từ ngày đối chiếu công nợ, bà Q không thanh toán cho phía Công ty, nên nay Công ty khởi kiện yêu cầu bà Q trả số tiền nợ vốn và tiền lãi phát sinh từ hợp đồng là 142.079.934 đồng, trong đó tiền nợ vốn: 42.494.577 đồng; Lãi trong hạn: 20.134.355 đồng; Lãi phạt: 33.294.502 đồng; Phạt vi phạm hợp đồng thuê đất vụ 2014-2015: 17.056.000 đồng; Tiền thu hồi hỗ trợ hợp đồng vụ 2014-2015 là 29.100.500 đồng. Phía Công ty không yêu cầu bà Q phải trả khoản tiền lãi trong thời gian Tòa thụ lý, giải quyết ngoài khoản tiền lãi đã nêu ở trên. Để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng thì phía bà Q có giao cho Công ty giữ một số giấy tờ sau: Giấy đăng ký mô tô, xe máy số: 0067485 do Công an tỉnh T cấp cho bà Nguyễn Tố Q ngày 03/10/2003; Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0045474 do Công an tỉnh T cấp cho ông Dương Văn T1 ngày 17/10/2006 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H04068 ngày 02/7/2008 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Đào Văn V. Ngay khi bà Q trả đủ tiền, Công ty đồng ý trả lại cho bà Q các giấy tờ nêu trên.

Tại đơn khởi kiện ngày 03/7/2023, Công ty yêu cầu buộc bà Q và những người thừa kế của ông Dương Văn T1 (gồm bà Q, bà Nguyễn Thị H, anh Dương Quốc K và chị Dương Thị Xuân N) trả số tiền nợ gốc và lãi là 142.079.934 đồng. Ngày 08/4/2024, Công ty T3 yêu cầu khởi kiện này. Công ty yêu cầu bà Q trả số tiền nợ trên, đối với những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Dương Văn T1, Công ty không yêu cầu. Tại “Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện” ngày 08/5/2024, Công ty xin rút lại phần yêu cầu buộc bà Q trả số tiền lãi là 99.585.357 đồng (bằng chữ: Chín mươi chín triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng). Công ty yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Q trả lại số tiền nợ gốc là 42.494.577 đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn, anh Diệp Văn C trình bày: Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì các hợp đồng ứng vốn trồng mía với Công ty, bà Q đã thực hiện xong. Bà Q xác nhận vào thời điểm ngày 31/12/2014, bà Q còn nợ tiền ứng vốn trồng mía của Công ty, nhưng do thời gian đã lâu nên không nhớ là còn nợ bao nhiêu tiền, tuy nhiên sau đó ông V (người cày mía của bà Q) có cam kết trồng mía lại cho bà Q, và giữa Công ty, bà Q, ông V cũng có lập biên bản thỏa thuận ông V sẽ trồng mía nhập cho Công ty để trừ khoản nợ còn thiếu thay bà Q. Tuy nhiên, bà Q không giữ biên bản này nên không thể giao nộp cho Tòa, văn bản thỏa thuận này do Công ty giữ. Sau khi chấm dứt hợp đồng, Công ty không giao bất kỳ văn bản, giấy tờ gì cho bà Q, chỉ đưa một xấp văn bản kêu bà ký nhưng nói là ký để tất toán hồ sơ, do bà Q không đọc nội dung nên mới ký, nên việc bà Q ký tên vào văn bản này không đồng nghĩa với việc thừa nhận số tiền nợ ghi trong thông báo. Nếu bà Q còn nợ vốn 42.494.577 đồng theo như thông báo thì Công ty C1 vào đâu để yêu cầu bà Q trả số tiền 142.079.934 đồng. Bà Q yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiện khi giải quyết vụ án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Đào Văn V trình bày: Vào năm 2014, ông làm thuê cho bà Nguyễn Tố Q và ông Dương Văn T1, nhưng vợ chồng bà Q nợ tiền công của ông không trả, nên khi thấy phần đất vợ chồng bà Q thuê để trồng mía nhưng không làm mà bỏ hoang, nên ông lấy cày trồng mè để trừ tiền công bà Q nợ ông. Tuy nhiên, sau khi ông cày đất thì bà Q thưa ông ra xã, nên mới có biên bản hòa giải ngày 31/12/2014 của Công an xã C như phía bị đơn cung cấp. Tại buổi hòa giải, ông có cam kết sẽ trồng lại mía cho bà Q, với điều kiện bà Q phải có trách nhiệm cung cấp mía giống (nội dung này có ghi rõ trong biên bản hòa giải). Tuy nhiên sau đó, bà Q không cung cấp mía giống để ông trồng theo cam kết, nên sự việc cũng chấm dứt từ đó. Việc bà Q cho rằng, giữa ông, bà Q và Công ty có lập biên bản về việc ông sẽ có trách nhiệm trồng mía, chăm sóc, sau đó nhập cho Nhà máy đường để trừ vào khoản nợ cho bà Q là hoàn toàn không đúng sự thật. Mía của bà Q thời điểm đó không biết bị ai đốt, ông thấy đất để không, mà tiền bà Q không trả nên mới cày để làm. Sự việc này chỉ được giải quyết theo biên bản hòa giải ngày 31/12/2014 của Công an xã C, ngoài ra không còn biên bản nào khác. Ngoài ra, ông có cho bà Q mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H04068 ngày 02/7/2008 để bà Q giao cho Công ty khi ký hợp đồng ứng vốn. Nay Công ty khởi kiện bà Q, ông không có ý kiến. Ông không yêu cầu bà Q hay Công ty trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong vụ án này. Tranh chấp giữa ông và bà Q nếu có, ông sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác. Do tuổi cao, đi lại khó khăn nên ông đề nghị Tòa án các cấp giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Đại diện VKSND Huyện Dương Minh Châu phát biểu: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm giải quyết vụ án thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS 2015.

Về nội dung: Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T2 đối với bà Nguyễn Tố Q, về tranh chấp đòi lại tài sản. Buộc bà Nguyễn Tố Q có trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần T2 số tiền 42.494.577 đồng. Đình chỉ yêu cầu của Công ty cổ phần T2 khởi kiện bà Nguyễn Tố Q trả số tiền lãi là 99.585.357 đồng, đồng thời xác định nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
  2. Về xác định người tham gia tố tụng: Tại đơn khởi kiện ngày 03/7/2023, Công ty cổ phần T2 (sau đây gọi tắt là Công ty) yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Q và những người thừa kế khác của ông Dương Văn T1 (gồm bà Nguyễn Thị H, anh Dương Quốc K và chị Dương Thị Xuân N) trả số tiền nợ gốc và lãi là 142.079.934 đồng. Tuy nhiên ngày 08/4/2024, Công ty thay đổi yêu cầu khởi kiện này. Công ty chỉ yêu cầu bà Q trả số tiền nợ trên, đối với những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Dương Văn T1, Công ty không yêu cầu, do đó Tòa án không đưa bà Nguyễn Thị H, anh Dương Quốc K và chị Dương Thị Xuân N tham gia tố tụng với tư cách bị đơn trong vụ án.
  3. Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện: Ngày 08/5/2024, Công ty yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Q trả lại số tiền nợ gốc là 42.494.577 đồng đồng và xin rút lại phần yêu cầu buộc bà Q trả số tiền lãi là 99.585.357 đồng. Xét thấy việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đương sự đã rút.
  4. Về thời hiệu khởi kiện: Công ty khởi kiện yêu cầu bà Q trả lại số tiền ứng vốn đã nhận từ Công ty là 42.494.577 đồng nên đây là tranh chấp đòi lại tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó vụ án thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Xét yêu cầu của nguyên đơn, thấy rằng: Từ năm 2013 đến năm 2014, bà Nguyễn Tố Q ký với Công ty cổ phần M, nay là Công ty cổ phần T2 04 hợp đồng ứng vốn, theo đó Công ty cung ứng cho Q tổng số tiền vốn là 385.039.500 đồng để đầu tư trồng mía. Sau khi thu hoạch mía, bà Q có trách nhiệm bán lại cho Công ty, số tiền bán mía sẽ được trừ dần vào số tiền vốn mà Công ty đã cung ứng cho bà Q. Sau khi hết hạn hợp đồng, ngày 29/8/2019, Công ty Đ công nợ và thông báo cho bà Q biết, số tiền ứng vốn bà Q còn nợ là 42.494.577 đồng. Bà Q xác nhận vụ mía cuối cùng vào năm 2014 bà còn nợ tiền ứng vốn của Công ty và cũng xác nhận chữ ký trong thông báo về việc “Yêu cầu trả nợ theo các hợp đồng ứng vốn” ngày 29/8/2019 do Công ty giao nộp là của bà, tuy nhiên cho rằng ông Đào Văn V là người đốt và cày mía của bà nên giữa bà, ông V và Công ty có lập biên bản thỏa thuận về việc ông V sẽ có trách nhiệm trồng lại mía, sau đó nhập cho Công ty để cấn trừ khoản nợ của bà với Công ty. Về phía Công ty và ông V không thừa nhận, nhưng bà Q không cung cấp được chứng cứ chứng minh, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Việc Công ty khởi kiện yêu cầu bà Q trả lại số tiền ứng vốn 42.494.577 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. Về biện pháp bảo đảm hợp đồng: Để bảo đảm thực hiện các hợp đồng ứng vốn, bà Q ký văn bản thỏa thuận giao cho Công ty các giấy tờ gồm: Giấy đăng ký mô tô, xe máy số: 0067485 do Công an tỉnh T cấp cho bà Nguyễn Tố Q ngày 03/10/2003; Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0045474 do Công an tỉnh T cấp cho ông Dương Văn T1 ngày 17/10/2006 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H04068 ngày 02/7/2008 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Đào Văn V. Nay Công ty cũng đồng ý trả lại cho bà Q các giấy tờ này, ngay khi nhận đủ tiền ứng vốn là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  7. Đối với tranh chấp giữa ông Đào Văn V và bà Nguyễn Tố Q liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04068 ngày 02/7/2008 nếu có, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
  8. Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn bà Q phải chịu án phí sơ thẩm dân sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, tuy nhiên bà Q có đơn đề nghị miễn án phí vì là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T2. Buộc bà Nguyễn Tố Q có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần T2 số tiền 42.494.577 đồng (bằng chữ: Bốn mươi hai triệu bốn trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm bảy mươi bảy đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

  2. Đình chỉ xét xử yêu cầu của Công ty cổ phần T2 khởi kiện bà Nguyễn Tố Q trả số tiền lãi là 99.585.357 đồng (bằng chữ: Chín mươi chín triệu năm trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng).
  3. Công ty cổ phần T2 có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Tố Q các giấy tờ sau: Giấy đăng ký mô tô, xe máy số: 0067485 do Công an tỉnh T cấp cho bà Nguyễn Tố Q ngày 03/10/2003 (bản chính); Giấy đăng ký mô tô, xe máy số 0045474 do Công an tỉnh T cấp cho ông Dương Văn T1 ngày 17/10/2006 (bản chính) và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H04068 ngày 02/7/2008 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Đào Văn V (bản chính) ngay khi bà Q trả đủ tiền.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Tố Q được miễn nộp tiền án phí. Công ty cổ phần T2 được nhận lại 3.551.998 đồng (bằng chữ: Ba triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn chín trăm chín mươi tám đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0013953 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND H. Dương Minh Châu;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về đòi lại tài sản

  • Số bản án: 56/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TTC Biên Hòa tranh chấp hợp đồng ứng vốn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger