Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 56/2024/DS-ST

Ngày: 16/7/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Kiên Hiển.

2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nhật Vi Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, TP. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 81/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 307/2024/QĐST-HPT ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Gia T – Theo Giấy ủy quyền.

Bị đơn: Bà Lưu Thị P, sinh năm 1996.

Địa chỉ: A Cư xá Đ, đường L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà P vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ông Trần Gia T là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 15/5/2018, bà P có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ thu nhập của bà P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 486265-5361 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 611.715.875 đồng, bà P đã thanh toán 595.757.563 đồng. Do bà P không tiếp tục thanh toán nên ngày 23/02/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của bà P và chuyển toàn bộ số nợ qua nợ quá hạn.

Tính đến ngày 03/4/2024, bà P còn nợ ngân hàng các khoản sau:

Dư nợ gốc: 22.872.417 đồng;

Lãi quá hạn: 23.240.814 đồng;

Tổng cộng: 46.113.231 đồng. Yêu cầu trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà P còn tiếp tục thanh toán lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo quy định của hợp đồng.

Bị đơn bà Lưu Thị P đã được Tòa án tống đạt, niêm yết Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo qui định của pháp luật, nhưng bà P vẫn không có mặt theo triệu tập nên Tòa án không ghi nhận được lời khai.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Ngân hàng có ông Trần Gia T là đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử văng mặt.

- Bị đơn bà Lưu Thị P vắng mặt không có lý do.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ông Trần Gia T là đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà P trả cho Ngân hàng toàn bộ các khoản nợ tạm tính đến hết ngày 16/7/2024 là: 49.205.567 đồng, trong đó bao gồm: Tiền nợ gốc chưa thanh toán: 22.872.417 đồng; Tiền lãi chưa thanh toán: 26.333.150 đồng. Bà P tiếp tục trả lãi phát sinh theo Hợp đồng đã ký từ ngày 17/7/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Bị đơn bà Lưu Thị P mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số: 38/TB-TLVA ngày 10/01/2024 nhưng đều không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, cũng không có yêu cầu phản tố. Ngoài ra, Tòa án đã làm thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định pháp luật nhưng bà P đều vắng mặt không có lý do. Bà P cũng không có ý kiến gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với việc xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp: Xét quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn trong vụ án này là tranh chấp về dân sự mà cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

1.2. Về thẩm quyền: Xét bà Lưu Thị P có địa chỉ cư trú tại Quận C. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3.

1.3. Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà Lưu Thị P đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Quận 3 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Xét các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết thời hiệu khởi kiện nên Tòa án không giải quyết về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về áp dụng quy định pháp luật để giải quyết vụ án:

Xét giao dịch dân sự do các bên xác lập và đang thực hiện có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng nên áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự, Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết vụ án.

[4] Xét yêu cầu của Ngân hàng:

Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của Ngân hàng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 15/5/2018, bà P có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà P, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số thẻ 486265-5361 với hạn mức 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 611.715.875 đồng, bà P đã thanh toán 595.757.563 đồng. Do bà P không tiếp tục thanh toán nên ngày 23/02/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của bà P và chuyển toàn bộ số nợ qua nợ quá hạn.

Tính đến ngày 16/7/2024, bà P còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 49.205.567 đồng, cụ thể :

- Nợ gốc: 22.872.417 đồng.

- Lãi quá hạn: 26.333.150 đồng.

Yêu cầu thực hiện trả tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Tại khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.

Xét tại Điều 463 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định:

Điều 463: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Khoản 5 Điều 466: “ Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Xét tại Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quy định:

“... Điều 20: Trừ trường hợp Đơn vị phát hành thẻ có quy định khác, việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

- Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước;

- Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;

- Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;

- Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ;

- Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;

- Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ....”.

Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Do đó việc bà P chậm trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là vi phạm thỏa thuận giữa hai bên và trái với quy định pháp luật. Vì vậy, xét Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bà P trả số nợ trên ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên được chấp nhận.

Bà P còn tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S kể từ ngày 17/7/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

[5] Như đã phân tích, xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận. Do bà Lưu Thị P không tham gia tố tụng và không có lời khai nên không giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

- Án phí dân sự sơ thẩm: bà Lưu Thị P phải nộp là 2.460.278 đồng.

- H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.076.266 đồng theo biên lai số 0002438 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, Điều 180, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc bà Lưu Thị P trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 15/5/2018 gồm:

- Nợ gốc: 22.872.417 đồng.

- Lãi quá hạn: 26.333.150 đồng (tạm tính đến ngày 16/7/2024)

Tổng cộng: 49.205.567 đồng.

Yêu cầu thực hiện trả tiền ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Bà Lưu Thị P còn tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S kể từ ngày 17/7/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Lưu Thị P phải nộp 2.460.278 đồng.

- H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.076.266 đồng theo biên lai số 0002438 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Lưu Thị P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 3;
  • - Chi cục THA Dân sự Q3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ (...).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 56/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 56/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger